Hisnul Muslim - pháo đài của người Muslim - các lời Zdikr (tụng niệm) từ Qur'an và Sunnah
Cuốn sách tập hợp những lời tụng niệm từ Kinh Qur'an và Sunnah nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thường xuyên đọc và lặp lại trong các thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Sách bao gồm những lời Du'a khi thức dậy, khi thực hiện Wudu', trong Salah, khi đi đường, cùng nhiều dịp khác, giúp người Muslim tự bảo vệ bản thân để luôn được ở trong sự gìn giữ và che chở của Allah.
This PDF is generated automatically from the book's text; its layout may differ from the printed edition.
Hisnul Muslim - Pháo Đài Của Người Muslim - Các Lời Tụng Niệm Từ Qur'an Và Sunnah
Người luôn cần đến Allah Tối Cao
Tiến sĩ Sa'eed bin 'Ali bin Wahf Al-Qahtani
Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung
Lời Mở Đầu
Alhamdulillah, mọi lời ca ngợi và tán dương kính dâng Allah, bầy tôi xin tạ ơn Ngài, thành tâm cầu xin Ngài giúp đỡ và tha thứ. Khẩn cầu Allah che chở tránh khỏi mọi điều xấu xuất phát từ bản thân của bầy tôi và trong mọi việc làm của bầy tôi. Quả thật, người nào được Allah hướng dẫn sẽ không còn lạc lối, còn người nào bị Ngài làm cho lạc lối thì sẽ không tìm thấy sự hướng dẫn. Bề tôi chứng nhận rằng không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Allah, Ngài là Thượng Đế duy nhất, không có đối tác, và bề tôi xin chứng nhận Muhammad là Nô Lệ, là Thiên Sứ của Ngài. Cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Người, cho gia quyến của Người, cho các bằng hữu của Người và cho những ai noi theo họ một cách tốt đẹp cho đến Ngày Phán Xét:
Đây là một bản tóm lược mà tôi đã trích lược từ quyển sách của mình mang tên: "Azdzdikr wa addu'a wa al-ilaj bi al-ruqa min al-kitab wa assunnah" - "Các lời tụng niệm, du'a và phương pháp chữa bệnh bằng Ruqyah từ Kinh Qur'an và Sunnah" [1]. Trong bản tóm lược này, tôi chỉ chọn phần liên quan đến các tụng niệm để cuốn sách được gọn nhẹ, thuận tiện mang theo khi đi đường và trong những chuyến hành trình. [1] Cuốn sách gốc nói trên, Alhamdulillah, đã được xuất bạn kèm theo phần thẩm định và truy xuất nguồn gốc các Hadith một cách chi tiết, gồm bốn tập. Hisnul Muslim nằm trong tập thứ hai và tập thứ nhất của bộ sách đó.
Trong cuốn sách này, tôi chỉ giới hạn ở phần nguyên văn của lời tụng niệm, và khi trích dẫn nguồn Hadith, tôi chỉ nêu một hoặc hai nguồn tham khảo được đề cập trong bản gốc. Ai muốn biết về Sahabah đã thuật lại Hadith đó hoặc muốn tìm hiểu truy xuất nguồn gốc Hadith thì hãy tham khảo cuốn sách gốc. Tôi cầu xin Allah, Đấng Quyền Năng và Vinh Quang, bằng những Danh xưng Tốt đẹp nhất của Ngài và những Phẩm chất Tối cao của Ngài, xin Ngài làm cho cuốn sách này là một nỗ lực chân thành chỉ vì Sắc diện Cao quí của Ngài, và xin Ngài ban lợi ích cho tôi từ nó trong cuộc sống của tôi và sau khi tôi qua đời, cũng như cho bất kỳ ai đọc nó, xuất bản nó, hoặc là nguyên nhân trong việc phổ biến nó; vì Ngài là Đấng Bảo vệ điều đó và Ngài toàn năng về điều đó. Cầu xin Allah ban phước lành và ban bình an cho Nabi của chúng ta Muhammad, cho gia đình của Người, cho các bạn đồng hành của Người và cho những người noi theo họ trong sự chính trực cho đến Ngày Phán Xét.
Tác giả
Tháng Safar (tháng 2), năm 1409 A.H
Giá trị của việc tụng niệm
Allah Tối Cao phán: {Vì vậy, các ngươi hãy nhớ đến TA, TA sẽ nhớ đến các ngươi; các ngươi hãy tri ân TA và chớ là những kẻ phụ ơn.}[2] [2] (chương 2 – Al-Baqarah, câu 152).
{Hỡi những người có đức tin! Các ngươi hãy nhớ đến Allah thật nhiều (bằng trái tim, chiếc lưỡi và việc làm của các ngươi).}[3] [3] (chương 33 – Al-Ahzab: 41).
{những người tưởng nhớ nhiều đến Allah, nam cũng như nữ; Allah đã chuẩn bị cho họ sự tha thứ và phần thưởng vĩ đại.}[4] [4] (chương 33 – Al-Ahzab: 35).
{Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy nhớ đến Thượng Đế của Ngươi trong lòng bằng sự hạ mình (và bằng lời tụng niệm) nhỏ khẽ, không to tiếng, vào sáng chiều, và Ngươi chớ đừng như những kẻ lơ là, thờ ơ (không nhớ tới Allah)!}[5] [5] (chương 7 - Al-'Araf: 205).
và Nabi ﷺ nói: {Hình ảnh của người nhớ đến Thượng Đế của mình và người không nhớ đến Thượng Đế của mình giống như hình ảnh của người sống và người chết.}[6], [6] Al-Bukhari cùng với Al-Fath (11/208) số (6407), và Muslim (1/539) số (779) với lời dẫn: {Hình ảnh của một ngôi nhà trong đó Allah được tưởng nhớ và một ngôi nhà trong đó Allah không được nhớ đến giống như người sống và người chết.}
và Nabi ﷺ nói: {Các ngươi có muốn Ta nói cho các ngươi biết về một việc làm tốt nhất, trong sáng nhất trước mặt Vua của các ngươi, cao nhất trong cấp bậc của các ngươi, tốt cho các ngươi hơn cả việc bố thí vàng và bạc, và tốt hơn cả việc các ngươi gặp kẻ thù, các ngươi đánh vào cổ họ và họ đánh vào cổ các ngươi?} Họ nói: Chúng tôi muốn. {Đó là sự tụng niệm Allah Tối Cao.}[7], [7] At-Tirmizdi (5/459) số (3377), và Ibnu Majah (2/124) số (3790), và xem: Sahih Ibnu Majah (2/316), và Sahih At-Tirmizdi (3/139).
và Người ﷺ nói: {Allah Tối Cao phán: TA ở cùng với suy nghĩ của người bề tôi về TA, và TA ở bên y khi y nhớ đến TA. Vì vậy, nếu y nhớ đến TA trong bản thân y, thì TA nhớ đến y trong bản thân TA, và nếu y nhớ đến TA giữm một tập thể, TA sẽ nhớ đến y giữa một tập thể tốt hơn. Nếu y đến gần TA một gang tay, TA sẽ đến gần y một khuỷu tay, nếu y đến gần TA một khuỷu tay, TA sẽ đến gần y bằng một cánh tay, và nếu y đi bộ đến với TA, TA sẽ chạy đến với y.}[8], [8] Al-Bukhari (8/171) ghi số (7405) và Muslim (4/2061) ghi, số (2675) và lời Hadith là của Al-Bukhari.
Và ông 'Abdullah bin Busr thuật lại rằng một người đàn ông đã nói: Thưa Thiên Sứ của Allah, quả thật giáo luật Islam đã trở nên quá sức đối với tôi, vì vậy hãy cho tôi biết điều gì đó mà tôi có thể bám vào. Người ﷺ nói: {Hãy luôn để lưỡi của ngươi ướt từ việc tụng niệm Allah}[9], [9] At-Tirmizdi (5/458), số (3375), và Ibnu Majah (2/1246), số (3793), được Al-Albani xác thực Sahih trong: Sahih At-Tirmizdi (3/139), và Sahih Ibnu Majah (2/317).
và Người ﷺ nói: {Ai đọc một chữ từ Kinh Sách của Allah (Qur'an) sẽ được một ân phước, và một ân phước sẽ được nhân lên mười lần, Ta không nói: (الــم) là một chữ, mà alif là một chữ, lam là một chữ, và mim là một chữ.}[10] [10] At-Tirmizdi ghi (5/75), số (2910), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Tirmizdi (3/9), và Sahih Al-Jami' As-Saghir (5/340).
Và ông 'Uqbah bin 'Amir thuật lại: Thiên Sứ của Allah ﷺ đã đi ra khi chúng tôi đang ở As-Suffah, Người nói: {Ai trong các người muốn mỗi buổi sáng đi đến Buthan hoặc Al-Aqiq, rồi mang về từ đó hai con lạc đà cái bướu to mà không phạm tội cũng như không cắt đứt mối quan hệ họ hàng?} Chúng tôi nói: Thưa Thiên sứ của Allah, chúng tôi muốn điều đó. Người ﷺ nói: {Chẳng lẽ một người trong các ngươi không đi đến Masjid để học, hoặc đọc hai câu Kinh từ Kinh Sách của Allah (Qur'an) - Đấng Toàn Năng, Đấng Vĩ Đại - điều đó tốt cho y hơn là hai con lạc đà cái, và ba (câu Kinh) tốt cho y hơn là ba (con), và bốn (câu Kinh) tốt cho y hơn là bốn (con), và bất cứ số lượng (câu Kinh) nào cũng tốt cho y hơn số lượng lạc đà tương ứng.}[11] [11] (Muslim (1/553) số (803)).
và Người ﷺ nói: {Bất cứ ai ngồi ở một chỗ mà không nhắc nhớ Allah tại đó, thì đó sẽ là một điều khiến người ấy phải hối tiếc trước Allah, và bất cứ ai nằm xuống ở một chỗ mà không nhắc nhớ Allah tại đó, thì đó cũng sẽ là một điều khiến người ấy phải hối tiếc trước Allah.}[12] [12] (Abu Dawood (4/264), số (4856), và những người khác, và xem: Sahih Al-Jami' (5/342)).
và Người ﷺ nói: {Bất cứ một nhóm nào ngồi trong một buổi họp mặt mà không tụng niệm Allah hoặc Salawat cho Nabi của họ thì đó là một sự thua thiệt dành cho họ. Nếu muốn, Allah sẽ trừng phạt họ và nếu muốn Ngài sẽ tha thứ cho họ.}[13]. [13] (At-Tirmizdi (5/461) ghi số (3380), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/140)).
và Người ﷺ nói: {Không một nhóm người nào đứng dậy từ một buổi ngồi mà không tưởng nhớ Allah ngoại trừ việc họ đứng dậy như vừa rời khỏi xác chết của một con lừa, và buổi ngồi đó là nguyên nhân khiến họ phải hối tiếc.}[14] [14] (Abu Dawood (4/264) số (4855), và Ahmad (2/389) số (10680) và xem: Sahih Al-Jami'a (5/176)).
1. Các lời tụng niệm khi thức dậy sau giấc ngủ
الحَمْدُ للَّهِ الَّذِي أَحْيَانَا بَعْدَ مَا أَمَاتَنَا، وَإِلَيْهِ النُّشُورُ [15]. [15] Al-Bukhari với Al-Fath, 11/113, số (6314), và Muslim, 4/2083, số (2711).
{Al hâm đu lil la hil la zdi ah ya na ba’ đa ma a ma ta na, wa i lây hin nu shur}. Ý nghĩa: {Alhamdulillah, tạ ơn Allah, Ngài đã làm cho bầy tôi sống lại sau khi đã làm bầy tôi chết, và rồi bầy tôi sẽ trở về trình diện Ngài}
[16]. [16] {Người nào đọc lời Du'a này sẽ được tha thứ, nếu y cầu xin, y sẽ được đáp lại, nếu y đứng dậy làm Wudu rồi hành lễ Salah thì lễ Salah của y sẽ được chấp nhận.} Al-Bukhari cùng với Al-Fath (3/39) ghi số (1154) và những vị khác, và lời Hadith này là của Ibn Majah, xem: Sahih Ibnu Majah (2/335).
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir. Sub ha nol loh, wal hâm đu lil lah, wa la i la ha il lol loh, wol lo hu ak bar wa la hâu la wa la cu wa ta il la bil la hil ‘a li yil ‘a zhim, rab bigh fir li.} Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Allah, Đấng duy nhất không có đối tác với Ngài, mọi vương quyền, mọi lời ca ngợi thuộc về Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ. Tạ ơn Allah, vinh quang thay Allah, không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Allah, Allah vĩ đại nhất và không có sự chuyển động và quyền thống trị nào phát huy trừ phi Allah Đấng Tối Cao, Đấng Vĩ Đại muốn. Lạy Allah, xin hãy tha thứ cho bề tôi.}
«الحَمْدُ لِلَّهِ الَّذِي عَافَانِي فِي جَسَدِي، وَرَدَّ عَلَيَّ رُوحِي، وَأَذِنَ لِي بِذِكْرِهِ»[17]. [17] At-Tirmizdi (5/473), số (3401), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/144).
{Al hâm đu lil la hil la zdi ‘a fa ni fi ja sa đi, wa rađ đa ‘a lây ya ru hi, wa a zdi na li bi zdik rih}. Ý nghĩa: {Tạ ơn Allah, Đấng đã ban sức khoẻ cho cơ thể bề tôi, Đấng đã trả linh hồn lại cho bề tôi và ban cho bề tôi sự dễ dàng trong việc tụng niệm Ngài.}
{(190) Quả thật, việc tạo hóa các tầng trời và trái đất cũng như việc luân chuyển ban đêm và ban ngày là những dấu hiệu dành cho những người hiểu biết. (191) Họ là những người (thường xuyên) tụng niệm Allah lúc đứng, lúc ngồi và ngay cả lúc nằm nghiêng một bên, họ thường suy ngẫm (về quyền năng của Allah) trong việc tạo hóa các tầng trời và trái đất (khiến họ phải thốt lên): “Lạy Thượng Đế của bầy tôi, Ngài đã không tạo hóa những thứ này một cách vô nghĩa. Quang vinh và trong sạch thay Ngài! Xin Ngài hãy cứu bầy tôi tránh khỏi sự trừng phạt nơi Hỏa Ngục.” (192) “Lạy Thượng Đế của bầy tôi, người nào đã bị Ngài tống vào Hỏa Ngục thì đó là kẻ đã bị Ngài sỉ nhục. Quả thật, những kẻ làm điều sai trái sẽ không được ai giúp đỡ.” (193) “Lạy Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi đã nghe được Vị mời gọi kêu gọi đến với đức tin rằng hãy tin nơi Thượng Đế của các người và bầy tôi đã tin tưởng. Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho bầy tôi, xin hãy xí xóa mọi việc làm sai trái mà bầy tôi đã phạm, và xin hãy cho bầy tôi được chết cùng với những người đức hạnh.” (194) “Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài ban cho bầy tôi những thứ mà Ngài đã hứa với bầy tôi qua (lời nói của) các vị Thiên Sứ của Ngài và xin đừng sỉ nhục bầy tôi vào Ngày Phán Xét. Quả thật, Ngài không bao giờ thất hứa.” (195) Thế là họ được Thượng Đế của họ đáp lại lời cầu nguyện đó, (Ngài phán): “TA nhất định không làm mất bất cứ việc hành đạo nào mà các ngươi đã từng làm, (không phân biệt) nam hay nữ, tất cả đều được ban thưởng như nhau. Cho nên, những ai đã di cư hoặc đã bị trục xuất ra khỏi nhà cửa của mình và đã chịu hoạn nạn đau khổ vì chính nghĩa của TA, và họ đã anh dũng chiến đấu và đã hi sinh thì chắc chắn họ sẽ được TA xóa bỏ hết mọi tội lỗi và được thu nhận vào những Ngôi Vườn Thiên Đàng bên dưới có các dòng sông chảy, một phần thưởng xứng đáng từ Allah. Quả thật, ở nơi Allah luôn có những phần thưởng tốt nhất.” (196) Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) chớ đừng bị mắc lừa bởi việc đi lại hí hửng của những kẻ ngoại đạo trên mặt đất. (197) (Đó chỉ là) một sự hưởng thụ tạm bợ và chóng tàn, rồi đây chốn ở của họ sẽ là Hỏa Ngục và đó là một nơi cư ngụ vô cùng tồi tệ. (198) Ngược lại, những ai ngoan đạo với Thượng Đế của họ thì sẽ được ban thưởng những Ngôi Vườn Thiên Đàng bên dưới có các dòng sông chảy, họ sẽ ở trong đó mãi mãi, một sự chiêu đãi đặc biệt từ nơi Allah. Quả thật, những gì ở nơi Allah là tốt nhất cho những người đức hạnh. (199) Trong số những người dân Kinh Sách vẫn có người tin tưởng nơi Allah, tin tưởng vào điều đã mặc khải cho các ngươi (những người có đức tin) và tin vào điều đã được mặc khải cho họ (trước đây), họ đã hạ mình khiêm tốn trước Allah, họ không bán các lời mặc khải của Allah với cái giá ít ỏi (của trần gian). Đó là những người mà phần thưởng của họ ở nơi Thượng Đế của họ. Quả thật Allah rất nhanh chóng trong việc tính sổ (thưởng phạt). (200) Hỡi những người có đức tin, các ngươi hãy thực sự kiên nhẫn, hãy thực sự kiên trì, hãy kiên định vững chắc, và hãy kính sợ Allah, mong rằng các ngươi sẽ thành công.} (chương 3 – Ali ‘Imran: 190 - 200) [18]. [18] Al-Bukhari với Al-Fath (8/337), số (4569), và Muslim (1/530), số (256).
2. Lời Du'a khi mặc áo
«الحَمْدُ للَّهِ الَّذِي كَسَانِي هَذَا (الثَّوْبَ) وَرَزَقَنِيهِ مِنْ غَيْرِ حَوْلٍ مِنِّي وَلَّا قُوَّة...»[19]. [19] Do các tác giả Sunan ghi ngoại trừ An-Nasa-i’: Abu Dawood ghi số (4023), At-Tirmizdi ghi số (3458), và Ibn Majah ghi số (3285), và Al-Albani cho là tốt trong: Irwa' Al-Ghalil (47/7).
{Al hâm đu lil la hil la zdi ka sa ni ha zdath thâu ba, wa ro za co ni hi min ghoi ri hâu lin min ni, wa la cu wah}. Ý nghĩa: {Tạ ơn Allah, Đấng đã ban cái mặc và ban bổng lộc cho bề tôi trong khi bề tôi không có khả năng tạo ra nó.}
3. Lời Du'a khi mặc áo mới
«اللَّهُمَّ لَكَ الحَمْدُ أَنْتَ كَسَوْتَنِيهِ، أَسْأَلُكَ مِنْ خَيْرِهِ وَخَيْرِ مَا صُنِعَ لَهُ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّهِ وَشَرِّ مَا صُنِعَ لَهُ»[20]. [20] Abu Dawood số (4020), và At-Tirmizdi số (1767), và Al-Baghawi (12/40), và xem: Mukhtasar Shama-il At-Tirmizdi của Al-Albani (trang 47).
{Ol lo hum ma la kal hâm đu anh ta ka sâu ta ni hi, as a lu ka min khoi ri hi wa khoi ri ma su ni ‘a lah, wa a ‘u zdu bi ka min shar ri hi, wa shar ri ma su ni ‘a lah}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, tạ ơn Ngài đã ban cho bề tôi cái mặc. Cầu xin hãy ban cho bề tôi những điều tốt lành từ chiếc áo này và tránh mọi điều xấu từ nó.}
4. Cầu xin cho người mặc áo mới.
تُبْلِي وَيُخْلِفُ اللَّهُ تَعَالَى[21]. [21] Do Abu Dawood ghi (4/41) số (4020), và xem: Sahih Abu Dawood (2/760).
{Tub li wa yukh li ful lo hu ta ‘a la}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah, Đấng Tối Cao ban cho anh/chị sống thọ để được mặc áo đến cũ, sau đó thay cho anh áo khác tốt hơn nó.}
اِلبَسْ جَدِيدًا، وَعِشْ حَمِيدًا، وَمُتْ شَهِيدًا[22]. [22] Ibnu Majah (2/1178) ghi số (3558), và Al-Baghawi (41/12), và xem: Sahih Ibnu Majah (275/2).
{Il bas ja đi đa, wa ‘ish ha mi đa, wa mut sha hi đa}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban cho anh/chị luôn được áo mới, ban cho anh/chị được sống được ca ngợi và ban cho anh/chị chết như một người Shaheed.}
5. Nói khi treo (hoặc móc) áo.
بِسْمِ اللَّه[23]. [23] At-Tirmizdi (2/505), số (606), và những người khác, và xem: Irwa Al-Ghalil, số (50), và Sahih Al-Jami (203/3).
{Bis mil lah}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah}
6. Lời du'a khi vào nhà vệ sinh
[بِسْمِ اللَّهِ اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنَ الخُبْثِ وَالخَبَائِثِ[24]." [24] Al-Bukhari ghi (1/45) số (142), và Muslim (1/283) số (375), và phần thêm: "Bismillah" ở phần đầu do Sa'id bin Mansur ghi. Xem Fath Al-Bari (1/244).
{Bis mil lah, ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka mi nal khu buth, wal kho ba ith}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah. Lạy Allah, cầu xin Ngài che chở bề tôi tránh khỏi Shaytan nam nữ.}
7. Du'a sau khi ra khỏi nhà vệ sinh
غُفْرَانَكَ[25]. [25] Do các tác giả Sunan ghi, ngoại trừ An-Nasa-i’ thì ghi trong Amal Al-Yawm wa Al-Lailah, số (79), Abu Dawood ghi số (30), và At-Tirmizdi ghi số (7), và Ibnu Majah ghi số (300), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Sunan Abu Dawood số (1/19).
{Ghuf ro na ka}. Ý nghĩa: {Cầu xin sự tha thứ của Ngài.}
8. Tụng niệm trước Wudu
بِسْمِ اللَّهِ[26]. [26] Abu Dawood số (101), và Ibnu Majah số (397), và Ahmad số (9418), và xem Irwa Al-Ghalil (1/122).
{Bis mil lah}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah}
9. Tụng niệm sau khi xong Wudu
أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ وَأَشْهَدُ أَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُهُ وَرَسُولُهُ..[27]." [27] Muslim (1/209) số (234).
{Ash ha đu al la i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, wa ash ha đu anh na mu hâm ma đanh ‘ab đu hu wa ro su lu hu}. Ý nghĩa: {Tôi xin tuyên thệ không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah duy nhất không có đối tác và chứng nhận rằng Muhammad là Nô Lệ, là Thiên Sứ của Ngài.}
اللَّهُمَّ اجْعَلْنِي مِنَ التَّوَّابِينَ وَاجْعَلْنِي مِنَ المُتَطَهِّرِينَ[28]. [28] At-Tirmizdi (1/78) ghi số (55), và xem: Sahih At-Tirmizdi (1/18).
{Ol lo hum maj ‘al ni mi nat tâu wa bin, waj ‘al ni mi nal mu ta toh hi rin}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy biến bề tôi thành một trong những người thành thật sám hối và hãy thu nạp bề tôi vào nhóm người sạch sẽ.}
سُبْحانَكَ اللَّهُمَّ وَبِحَمْدِكَ، أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ، أَسْتَغْفِرُكَ وَأَتوبُ إِلَيْكَ[29]. [29] An-Nasa-i trong “Việc làm của ngày và đêm” (trang 173), và xem: Irwa Al-Ghalil (1/135) và (3/94).
{Sub ha na kol lo hum ma wa bi hâm đik, ash ha đu al la i la ha il la anh ta, as tagh fi ru ka wa a tu bu i lây ka}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah, bằng lời ca ngợi Ngài mà ca tụng tán dương, tôi xin tuyên thệ không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài. Cầu xin Ngài dung thứ tội cho bề tôi và bề tôi trở về sám hối với Ngài.}
10. Lời tụng niệm khi rời nhà
بِسْمِ اللَّهِ، تَوَكَّلْتُ عَلَى اللَّهِ، وَلَا حَوْلَ وَلَا قُوَّةَ إِلَّّا بِاللَّهِ[30]. [30] Abu Dawood (4/325) số (5095), và At-Tirmizdi (5/490) số (3426), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/151).
{Bis mil lah, ta wak kal tu ‘a lol loh, La hâu la wa la cu wa ta il la bil lah}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, bề tôi phó thác cho Ngài, không có sức mạnh nào trừ Allah.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ أَنْ أَضِلَّ، أَوْ أُضَلَّ، أَوْ أَزِلَّ، أَوْ أُزَلَّ، أَوْ أَظْلِمَ، أَوْ أُظْلَمَ، أَوْ أَجْهَلَ، أَوْ يُجْهَلَ عَلَيَّ[31]. [31] Các nhà ghi chép Sunan: Abu Dawood ghi số (5094), At-Tirmizdi ghi số (3427), An-Nasa-i' ghi số (5501), và Ibnu Majah ghi số (3884), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/152), và Sahih Ibnu Majah (2/336).
{Ol lol hum ma in ni a ‘u zdu bi ka anh a dhil, âu u dhol, âu a zil, âu u zal, âu odh lim, udh lâm, âu aj hal, âu yuj ha la ‘a lây ya}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh khỏi lầm lạc hoặc bị làm cho lầm lạc hoặc làm sai hoặc bị hướng dẫn sai hoặc làm điều bất công hoặc bị ép buộc làm điều bất công hoặc làm điều ngu muội hoặc bị hướng dẫn làm điều ngu đần.}
11. Lời tụng niệm khi vào nhà
بِسْمِ اللَّهِ وَلَجْنَا، وَبِسْمِ اللَّهِ خَرَجْنَا، وَعَلَى اللَّهِ رَبِّنَا تَوَكَّلْنَا, sau đó chào Salam cho người trong nhà}[32]. [32] Do Abu Dawood ghi lại (4/325) với số (5096) và học giả Ibnu Bazz đã đánh giá Hasan đường dây truyền thuật của nó trong Tuhfat Al-Akhyar (trang 28), và trong quyển Sahih: {Khi một người vào nhà mình, nếu nhân danh Allah (tức nói Bismillah) lúc bước vào và lúc ăn uống, Shaytan nói: Không có chỗ ngủ cho các ngươi và cũng không có bữa tối cho các ngươi}, Muslim số (2018).
{Bis mil la hi wa laj na, wa bis mil la hi kho raj na, wa ‘a la rab bi na ta wa kal na}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah bầy tôi vào, nhân danh Allah bầy tôi ra và Allah là Thượng Đế của bầy tôi, xin phó thác cho Ngài.}
12. Du'a khi đi Masjid
اللَّهُمَّ اجْعَلْ فِي قَلْبِي نُورًا، وَفِي لِسَانِي نُورًا، وَفِي سَمْعِي نُورًا، وَفِي بَصَرِي نُورًا، وَمِنْ فَوْقِي نُورًا، وَمِنْ تَحْتِي نُورًا، وَعَنْ يَمِينِي نُورًا، وَعَنْ شِمَالِي نُورًا، وَمِنْ أَمَامِي نُورًا، وَمِنْ خَلْفِي نُورًا، وَاجْعَلْ فِي نَفْسِي نُورًا، وَأَعْظِمْ لِي نُورًا، وَعَظِّمْ لِي نُورًا، وَاجْعَلْ لِي نُورًا، وَاجْعَلْنِي نُورًا، اللَّهُمَّ أَعْطِنِي نُورًا، وَاجْعَلْ فِي عَصَبِي نُورًا، وَفِي لَحْمِي نُورًا، وَفِي دَمِي نُورًا، وَفِي شَعْرِي نُورًا، وَفِي بَشَرِي نُورًا[33]. [33] Xem tất cả các lời Hadith này trong Al-Bukhari (11/116) số (3166), và Muslim (1/526) số (529), (530) và (763).
{Ol lo hum maj ‘al fi col bi nu ro, wa fi li sa ni nu ro, wa fi sâm ‘i nu ro, wa fi ba so ri nu ro, wa min fâu ci nu ro, wa min tah ti nu ro, wa ‘anh ya mi ni nu ro, wa ‘anh shi ma li nu ro, wa min a ma mi nu ro, wa min khol fi nu ro, waj ‘al fi naf si nu ro, wa ‘a zhim li nu ro, wa ‘ozh zhim li nu ro, waj ‘al li nu ro, waj ‘al ni nu ro. Ol lo hum ‘a ti ni nu ro, waj ‘al fi ‘a so bi nu ro, wa fi lah mi nu ro, wa fi đa mi nu ro, wa fi sha’ ri nu ro, wa fi ba sha ri nu ro}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin Ngài ban ánh sáng cho con tim, cho lưỡi, cho tai, cho mắt của bề tôi. Xin hãy ban ánh sáng trùm lấy bề tôi từ phía trên, bên dưới, bên phải, bên trái, phía trước và phía sau bề tôi. Xin ban ánh sáng vào trong cơ thể, trong tinh thần, trong thịt, trong máu, trong tóc và trong con người của bề tôi.}
اللَّهُمَّ اجْعَلْ لِي نُورًا فِي قَبْرِي... وَنُورًا فِي عِظَامِي[34]وَزِدْنِي نُورًا، وَزِدْنِي نُورًا، وَزِدْنِي نُورًا[35] وَهَبْ لِي نُورًا عَلَى نُورٍ[36] [34] At-Tirmizdi (5/483) số (3419). [35] Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad, số (695) (tr. 258) và được Al-Albani xác thực Isnad Sahih trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad số (536). [36] Ibnu Hajar ghi trong Fath Al-Bari, và quy cho Ibnu Abi 'Asim trong quyển Ad-Du'a, xem Al-Fath (11/118) và nói: Từ sự khác biệt của các lời thuật, tập hợp lại được hai mươi lăm điều.
(34) {Ol lo hum maj ‘al li nu ro fi cốp ri … wa nu ro fi ‘i zho mi}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, hãy thắp sáng ngôi mộ của bề tôi ... cả trong xương của bề tôi.} (35) {Wa zid ni nu ro, wa zid ni nu ro, wa zid ni nu ro} .Ý nghĩa: {Cầu xin Ngài, tăng thêm ánh sáng cho bề tôi.} (36) {Wa hấp li nu ron ‘a la nur}. Ý nghĩa: {Cầu xin Ngài, ban cho bề tôi ánh sáng đẹp nhất.}
13. Du'a khi vào Masjid
{Bắt đầu bằng chân phải}[37], và nói: أَعُوذُ بِاللَّهِ العَظِيمِ، وَبِوَجْهِهِ الكَرِيمِ، وَسُلْطَانِهِ القَدِيمِ، مِنَ الشَّيْطَانِ الرَّجِيمِ[38] [37] Theo lời của Anas bin Malik - cầu xin Allah hài lòng về ông -: , Al-Hakim ghi lại (1/218), và đánh giá Sahih theo điều kiện của Muslim, và Al-Dhahabi đã đồng tình với ông, và Al-Bayhaqi ghi lại (2/442), và Al-Albani đánh giá Hasan trong Chuỗi các Hadith Sahih (5/624), Số (2478). [38] Abu Dawood số (466), và xem: Sahih Al-Jami' số (4591).
{A ‘u zdu bil la hil ‘a zhim, wa bi waj hi hil ka rim, wa sul to ni hil co đi mi mi nash shây to nir ro jim}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah Đấng Vĩ Đại, Đấng Rộng Lượng, Đấng có uy quyền vĩnh hằng che chở tránh xa sự cám dỗ của Shaytan đáng bị nguyền rủa.} بِسْمِ اللَّهِ، وَالصَّلَاةُ[39] وَالسَّلَامُ عَلَى رَسُولِ اللَّهِ[40] [39] Ibnu Al-Sunni số (88), và Al-Albani đánh giá Hasan trong Al-Thamar Al-Mustatab, (trang 607). [40] Abu Dawood (1/126) số (465), và xem: Sahih Al-Jami'a (1/528).
{Bis mil lah, wos so lah, was sa la mu ‘a la ro su lil lah, Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Thiên Sứ của Ngài.} اللَّهُمَّ افْتَحْ لِي أَبْوَابَ رَحْمَتِكَ[41]. [41] Muslim (1/494) số (713), và trong quyển Sunan Ibnu Majah từ lời thuật của bà Fatimah: {Ol lo hum magh fir li zdu nu bi, waf tah li ab wa ba roh ma tik} (ý nghĩa: Lạy Allah, xin Ngài hãy tha thứ những tội lỗi của bề tôi, và xin hãy mở các cánh cửa khoan dung độ lượng của Ngài cho bề tôi.) Và Al-Albani đã đánh giá là Sahih dựa vào các lời thuật hỗ trợ. Xem: Sahih Ibn Majah (1/128) số (129).
14. Lời Du'a khi rời khỏi Masjid.
(Bắt đầu bằng chân trái)[42] và nói: بِسْمِ اللَّهِ وَالصَّلَاةُ وَالسَّلَامُ عَلَى رَسُولِ اللَّهِ، [42] Al-Hakim (1/218), và Al-Baihaqi (2/442), và được Al-Albani xác thực là Hasan trong Silsilah Al-Ahadith As-Sahihah (5/624), số (2478), và phần trích dẫn nguồn đã được đề cập trước đó.
{Bis mil lah, wos so la tu was sa la mu ‘a la ro su lil lah.}, Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, cầu xin ban bình an và phúc lành cho Thiên Sứ của Ngài} اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ مِنْ فَضْلِك
{Ol lo hum ma ni ni as a lu ka min fidh lik}, Ý nghĩa: {bề tôi cầu xin thiên lộc nơi Ngài.} اللَّهُمَّ اعْصِمْنِي مِنَ الشَّيْطَانِ الرَّجِيمِ[43]. [43] Xem nguồn trích dẫn các bản truyền của Hadith trước về lời cầu nguyện khi bước vào Masjid, số (20) và phần thêm: {Ol lo hum ma’ sim ni mi nash shây to nir ro jim} (ý nghĩa: Lạy Allah, xin Ngài bảo vệ bề tôi khỏi Shaytan bị nguyền rủa) của Ibn Majah. Xem: Sahih Ibn Majah (1/129).
15. Các lời tụng niệm của Azdan
Lặp lại giống như lời của người gọi Azdan, ngoại trừ hai câu (Hây ya ‘a los so lah) và (Hây ya ‘a lal fa lah) thì nói: لَا حَوْلَ وَلَا قُوَّةَ إِلَّا بِاللَّهِ[44]. [44] Al-Bukhari (1/152) số (611) và (613), và Muslim (1/288) số (383).
{La hâu la wa la cu wa ta il la bil lah}, ý nghĩa: {Không có sức mạnh nào ngoài sức mạnh của Allah.}
và nói: وَأَنَا أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ وَأَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُهُ وَرَسُولُهُ، رَضِيتُ بِاللَّهِ رَبًَّا، وَبِمُحَمَّدٍ رَسُولًا، وَبِالإِسْلَامِ دِينًَا[45] [45] Muslim (1/290) số (386).
{Wa a na ash ha đu al la i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, wa anh na mu hâm ma đanh ‘ab đu hu wa ro su luh, ro dhi tu bil la hi rab ba, wa bi mu hâm mách ro su la, wa bil is la mi đi na}, Ý nghĩa: {Tôi xin tuyên thệ không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah duy nhất không có đối tác và xin chứng nhận Muhammad là Nô Lệ, là Thiên Sứ của Ngài. Tôi đã hài lòng Allah là Thượng Đế, hài lòng Muhammad là Thiên Sứ và hài lòng Islam là tôn giáo.} (Nói điều đó ngay sau lời câu chứng ngôn đức tin của người gọi Azdan)[46]. [46] Ibnu Khuzaimah (1/220).
(Salawat cho Nabi ﷺ sau khi hoàn tất việc đáp lại lời kêu gọi của người hô gọi Azdan)[47]. [47] Muslim (1/288) số (384).
và nói: اللَّهُمَّ رَبَّ هَذِهِ الدَّعْوَةِ التَّامَّةِ، وَالصَّلَاةِ القَائِمَةِ، آتِ مُحَمَّدًا الوَسِيلَةَ وَالفَضِيلَةَ، وَابْعَثْهُ مَقَامًَا مَحمُودًا الَّذِي وَعَدْتَهُ، [إِنَّكَ لَا تُخْلِفُ المِيعَادَ][48]. [48] Al-Bukhari (1/152), số (614), và phần trong ngoặc vuông là của Al-Bayhaqi (1/410), và chuỗi truyền (Isnad) của nó được đánh giá là Hasan bởi Đại học giả 'Abdul 'Aziz bin Bazz (cầu xin Allah thương xót ông) trong Tuhfat Al-Akhyar (trang 38).
{Ol lo hum ma rab ba ha zdi hiđ đa’ wa tit tam mah, wos so la til co i mah, a ti mu hâm ma đanh, al wa si la ta wal fa đhi lah, wab ‘ath hu ma co mâm mah mu đa, al la zdi wa ‘at tah, in na ka la tukh li ful mi ‘ad}, Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Chủ Nhân của lời kêu gọi toàn mỹ này, là Chủ Nhân của sự bình an vĩnh hằng. Cầu xin Ngài hãy ban cho Nabi Muhammad Al-Wasilah (địa vị cao quý trên Thiên Đàng), Al-Fadilah (phẩm vị cao quý vượt trội). Và hãy phục sinh Người vào Ngày Phục Sinh với maqam mamud (địa vị được ca ngợi) mà Ngài đã hứa. Quả thực, Ngài không bao giờ thất hứa.}
(Cầu xin cho bản thân khoảng giữa Azdan và Iqamah, bởi lời cầu xin không bị từ chối trong lúc này)[49]. [49] At-Tirmizdi số (3594) và (3595), và Abu Dawood số (525), và Ahmad số (12200), và xem: Irwa Al-Ghalil (1/262).
16. Du'a Al-Istiftah
اللَّهُمَّ بَاعِدْ بَيْنِي وَبَيْنَ خَطَايَايَ كَمَا بَاعَدْتَ بَيْنَ المَشْرِقِ وَالمَغْرِبِ، اللَّهُمَّ نَقِّنِي مِنْ خَطَايَايَ كَمَا يُنَقَّى الثَّوْبُ الأَبْيَضُ مِنَ الدَّنَسِ، اللَّهُمَّ اغْسِلْني مِنْ خَطَايَايَ، بِالثَّلْجِ وَالماءِ وَالبَرَدِ[50]. [50] Al-Bukhari (1/181) số (744), và Muslim (1/419) số (598).
سُبْحانَكَ اللَّهُمَّ وَبِحَمْدِكَ، وَتَبارَكَ اسْمُكَ، وَتَعَالَى جَدُّكَ، وَلَا إِلَهَ غَيْرُكَ[51]. [51] Muslim số (399), và các tác giả của bốn bộ Sunan: Abu Dawood số (775), và At-Tirmizdi số (243), và Ibnu Majah số (806), và An-Nasa-i số (899), và xem: Sahih At-Tirmizdi (1/77), và Sahih Ibnu Majah (1/135).
{Sub ha na kol lo hum ma wa bi hâm đik, wa ta ba ra kas muk, wa ta ‘a las jad đuk, wa la i la ha ghoi ruk}, Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah và bằng lời ca ngợi Ngài mà ca tụng tán dương, phúc thay Danh xưng của Ngài, tối cao thay uy quyền của Ngài và không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài.}
وَجَّهْتُ وَجْهِيَ لِلَّذِي فَطَرَ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضَ حَنِيفًَا وَمَا أَنَا مِنَ المُشْرِكِينَ، إِنَّ صَلَاتِي، وَنُسُكِي، وَمَحْيَايَ، وَمَمَاتِي لِلَّهِ رَبِّ العَالَمِينَ، لَا شَرِيكَ لَهُ وَبِذَلِكَ أُمِرْتُ وَأَنَا مِنَ المُسْلِمِينَ، اللَّهُمَّ أَنْتَ المَلِكُ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ، أَنْتَ رَبِّي وَأَنَا عَبْدُكَ، ظَلَمْتُ نَفْسِي وَاعْتَرَفْتُ بِذَنْبِي فَاغْفِرْ لِي ذُنُوبي جَمِيعًَا إِنَّهُ لَا يَغْفِرُ الذُّنوبَ إِلَّا أَنْتَ، وَاهْدِنِي لِأَحْسَنِ الأَخْلاقِ لَا يَهْدِي لِأَحْسَنِها إِلَّا أَنْتَ، وَاصْرِفْ عَنِّي سَيِّئَهَا، لَا يَصْرِفُ عَنِّي سَيِّئَهَا إِلَّا أَنْتَ، لَبَّيْكَ وَسَعْدَيْكَ، وَالخَيْرُ كُلُّهُ بِيَدَيْكَ، وَالشَّرُّ لَيْسَ إِلَيْكَ، أَنَا بِكَ وَإِلَيْكَ، تَبارَكْتَ وَتَعَالَيْتَ، أَسْتَغْفِرُكَ وَأَتوبُ إِلَيْكَ[52]. [52] Do Muslim ghi (1/534) số (771).
{Waj jah tu waj hi ya lil la zdi fa to ros sa ma wa ti wal ar đho ha ni fa, wa ma a na mi nal mush ri kin, in na so la ti, wa nu su ki, wa mah ya ya, wa ma ma ti lil la hi rab bil ‘a la la min, la sha ri ka lah, wa bi zda li ka u mir tu wa a na mi nal mus li min; Ol lo hum ma anh tal ma lik, la i la ha il la anh ta, anh ta rab bi, wa a na ‘ab đuk, zo lâm tu naf si, wa’ ta raf tu bi zdâm bi, fagh fir li zdu nu bi ja mi ‘a, in na hu la yagh fi ruzd zdu nu ba il la anh ta, wah đi ni li ah sa nil akh laq, la ya đi li ah sa ni ha il la anh ta, wos rif ‘anh ni sây yi a ha, la yos rif ‘anh ni sây yi a ha il la anh ta, lắp bây ka wa sa’ đây ka, wal khoi ru kul lu hu fi ya đây ka, wash shar ru lây sa i lây ka, ta ba rak ta wa ta ‘a la lây ta, as tagh fi ru ka, wa a tu bu i lây ka}, Ý nghĩa: {Bề tôi hướng mặt mình về Đấng Tạo Hóa, đã tạo ra trời và đất vì chân lý và bề tôi không phải là người thờ đa thần. Quả thực, lễ nguyện Salah của bề tôi, vật giết tế của bề tôi, mạng sống lẫn cái chết của bề tôi đều thuộc về Allah, Đấng Chúa Tể của vũ trụ và vạn vật, không có sự chia sẻ cùng Ngài, vì lẽ đó mà bề tôi nhận được lệnh phải thành tâm tôn thờ và bề tôi thuộc tín đồ Muslim. Lạy Allah, Ngài là Chúa Tể mà không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài, Ngài là Thượng Đế của bề tôi và bề tôi là nô lệ của Ngài. Bề tôi đã phạm sai lầm và tội lỗi, cầu xin Ngài dung thứ tất cả tội lỗi cho bề tôi. Quả thực, không ai có khả năng dung thứ tội đó ngoại trừ Ngài. Cầu xin hãy ban cho bề tôi có được đức tính tốt đẹp nhất, không ai có khả năng ban cho thứ đó ngoại trừ Ngài. Và xin phù hộ bề tôi tránh mọi điều xấu bởi vì không ai có khả năng đó ngoài Ngài. Vâng, bề tôi xin nghe lời Ngài, xin tuân lệnh Ngài, tất cả điều tốt lành đều xuất phát từ đôi tay Ngài và mọi điều xấu không được dâng hiến cho Ngài. Bề tôi là do Ngài tạo hóa và thuộc về Ngài, Ngài là Đấng Tối Cao đã ban mọi điều may mắn, cầu xin Ngài dung thứ tội lỗi cho bề tôi và bề tôi quay trở về sám hối với Ngài.}
اللَّهُمَّ رَبَّ جِبْرَائِيلَ، وَمِيْكَائِيلَ، وَإِسْرَافِيلَ، فَاطِرَ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ، عَالِمَ الغَيْبِ وَالشَّهَادَةِ أَنْتَ تَحْكُمُ بَيْنَ عِبَادِكَ فِيمَا كَانُوا فِيهِ يَخْتَلِفُونَ، اهْدِنِي لِمَا اخْتُلِفَ فِيهِ مِنَ الحَقِّ بِإِذْنِكَ إِنَّكَ تَهْدِي مَنْ تَشَاءُ إِلَى صِرَاطٍ مُسْتَقيمٍ[53]. [53] Do Muslim ghi (1/534) số (770).
{Ol lo hum ma rab ba jib ro el, wa mi ka el, wa is ro fil, fa ti ros sa ma wa ti wal ardh, ‘a li mal ghoi bi wash sha ha đah, anh ta tah ku mu bây na ‘i ba đi ka fi ma ka nu fi hi yakh ta li fun, eh đi ni li makh tu li fa fi hi mi nal haq ci bi izd nik, in na ka tah đi manh ta sha u i la si ro tim mus ta cim}, Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Thượng Đế của Jibra'il, Mika'il và Israfil, Đấng Tạo Hoá của trời và đất, Đấng Am Tường mọi việc vô hình và hữu hình, Ngài phân xử mọi điều tranh cải giữa đám bầy tôi của Ngài. Cầu xin hãy hướng dẫn bề tôi làm đúng nhất trong vấn đề tranh cãi đó bằng ý muốn của Ngài. Quả thực, Ngài muốn hướng dẫn bất cứ ai tùy thích theo con đường chính đạo.}
«اللَّهُ أَكْبَرُ كَبِيرًَا، اللَّهُ أَكْبَرُ كَبِيرًا، اللَّهُ أَكْبَرُ كَبِيرًا، وَالحَمْدُ لِلَّهِ كَثيرًا، وَالحَمْدُ لِلَّهِ كَثيرًا، وَالحَمْدُ لِلَّهِ كَثيرًا، وَسُبْحَانَ اللَّهِ بُكْرَةً وَأَصِيلًا»
{Ol lo hu ak bar ka bi ro, ol lo hu ak bar ka bi ro, ol lo hu ak bar ka bi ro, wal hâm đu lil la hi ka thi ro, wal hâm đu lil la hi ka thi ro, wal hâm đu lil la hi ka thi ro, wa sub ha nol lo hi buk ro tâu wa a si la, wa sub ha nol lo hi buk ro tâu wa a si la, wa sub ha nol lo hi buk ro tâu wa a si la}, Ý nghĩa: {Allah vĩ đại nhất, tạ ơn Allah, vinh quang thay Allah từ sáng đến chiều} ba lần أَعُوذُ بِاللَّهِ مِنَ الشَّيْطَانِ: مِنْ نَفْخِهِ، وَنَفْثِهِ، وَهَمْزِهِ[54]. [54] Abu Dawood ghi (1/203) số (764), Ibnu Majah ghi (1/265) số (807), và Ahmad ghi (4/85) số (16739), và Shu'aib Al-Arnaut nói trong phần kiểm chứng Musnad: "Hasan Lighairihi", và Abdul Qadir Al-Arna'ut nói trong phần trích lục quyển Al-Kalim At-Tayyib của Ibnu Taimiyyah số (78): "đây là một Hadith Sahih nhờ vào các bằng chứng của nó", và được Al-Albani đề cập trong Sahih Al-Kalim At-Tayyib số (62), và Muslim ghi từ Ibnu Umar (cầu xin Allah hài lòng về hai cha con ông) tương tự, và trong đó có một câu chuyện (1/420) số (601).
{a ‘u zdu bil la hi mi nash shây to ni min naf khi hi, wa naf thi hi, wa hâm zi hi}, Ý nghĩa: {cầu xin Allah che chở tránh khỏi sự thổi phù phép và lời xúi giục của Shaytan.}
اللَّهُمَّ لَكَ الحَمْدُ[55], أَنْتَ نُورُ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ وَمَنْ فِيهِنَّ، وَلَكَ الحَمْدُ أَنْتَ قَيِّمُ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ وَمَنْ فِيهِنَّ، [وَلَكَ الحَمْدُ أَنْتَ رَبُّ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ وَمَنْ فِيهِنَّ] [وَلَكَ الحَمْدُ لَكَ مُلْكُ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ وَمَنْ فِيهِنَّ] [وَلَكَ الحَمْدُ أَنْتَ مَلِكُ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ] [وَلَكَ الحَمْدُ] [أَنْتَ الحَقُّ، وَوَعْدُكَ الحَقُّ، وَقَوْلُكَ الحَقُّ، وَلِقاؤُكَ الحَقُّ، وَالجَنَّةُ حَقٌّ، وَالنَّارُ حَقٌّ، وَالنَّبِيُّونَ حَقٌّ، وَمحَمَّدٌ ﷺ حَقٌّ، وَالسَّاعَةُ حَقٌّ] [اللَّهُمَّ لَكَ أَسْلَمتُ، وَعَلَيْكَ تَوَكَّلْتُ، وَبِكَ آمَنْتُ، وَإِلَيْكَ أَنَبْتُ، وَبِكَ خاصَمْتُ، وَإِلَيْكَ حاكَمْتُ. فَاغْفِرْ لِي مَا قَدَّمْتُ، وَمَا أَخَّرْتُ، وَمَا أَسْرَرْتُ، وَمَا أَعْلَنْتُ] [وَمَا أَنْتَ أَعْلَمُ بِهِ مِنِّي] [أَنْتَ المُقَدِّمُ، وَأَنْتَ المُؤَخِّرُ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ] [أَنْتَ إِلَهِي لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ] [وَلَا حَوْلَ وَلَا قُوَّةَ إِلَّا بِاللَّهِ][56]." [55] Thiên Sứ ﷺ thường đọc nó khi thức dậy từ ban đêm để hành lễ Tahajjud. "[56] Al-Bukhari với Al-Fath (3/3), (11/116) và (13/371), số (423), (465), (1120), (6317), (7385), (7442) và (7499), và Muslim tóm tắt tương tự (1/532), số (769)."
{Ol lo hum ma la kal hâm đu, anh ta nu rus sa ma wa ti wal ardh, wa manh fi hin; wa la kal hâm đu, anh ta coi yi mus sa ma wa ti wal ardh, wa manh fi hin; wa la kal hâm đu, anh ta rab bus sa ma wa ti wa ardh, wa manh fi hin; wa la kal hâm đu, la ka mul kus sa ma wa ti wa ardh, wa manh fi hin; wa la kal hâm đu, anh ta ma li kus sa ma wa ti wa ardh; wa la kal hâm đu, anh tal hắq, wa wa’ đu kal hắq, wa câu lu kal hắq, wa li co u kal hắq, wal janh na tu hắq, wal na ru hắq, wanh na bi yu na hắq, wa mu hâm mách sol lol lo hu ‘a lây hi wa sal lam hắq, was sa a’ tu hắq. Ol lo hum ma la ka as lâm tu, wa ‘a lây ka ta wak kal tu, wa bi ka a manh tu, wa i lây ka a nắp tu, wa bi ka kho sâm tu, wa i lây ka ha kâm tu. Fagh fir li ma cođ đâm tu, wa ma akh khar tu, wa ma as rar tu, wa ma ‘a lanh tu, anh tal mu cođ đim, wa anh tal mu akh khir, la i la ha il la anh ta, anh ta i la hi la i la ha il la anh ta.}" Ý nghĩa: {Lạy Allah, tất cả mọi lời ca ngợi tán dương đều là của Ngài, Ngài là Ánh Sáng của trời, đất và của tất cả vạn vật trong chúng. Tất cả mọi lời ca ngợi tán dương đều là của Ngài, Ngài là Đấng tạo dựng lên trời, đất và tất cả vạn vật trong chúng. Tất cả mọi lời ca ngợi tán dương đều là của Ngài, Ngài là Chủ Nhân, là Thượng Đế của trời, đất và của tất cả vạn vật trong chúng. Tất cả mọi lời ca ngợi tán dương đều là của Ngài, Ngài thống trị trời, đất và tất cả vạn vật trong chúng. Tất cả mọi lời ca ngợi tán dương đều là của Ngài, Ngài là Chúa Tể của trời, đất. Tất cả mọi lời ca ngợi tán dương đều là của Ngài, Ngài luôn hiện hữu; lời hứa của Ngài, lời phán của Ngài và cuộc gặp gỡ Ngài là sự thật; Thiên Đàng, Hỏa Ngục và các Thiên Sứ là có thực; Muhammad H là sự thật; Ngày Tận Thế là sự thật. Lạy Allah, vì Ngài bề tôi phủ phục, vì Ngài bề tôi phó thác, vì Ngài mà bề tôi tin tưởng, vì Ngài mà bề tôi sám hối và vì Ngài mà bề tôi Jihad và cũng vì Ngài mà bề tôi phân xử. Cầu xin Ngài hãy tha thứ cho bề tôi mọi tội lỗi của quá khứ; mọi tội lỗi của tương lai; mọi tội lỗi thầm kín; mọi tội lỗi công khai. Ngài là Đấng Khởi Đầu, là Đấng Kết Thúc, Đấng mà không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài, Ngài là Thượng Đế của bề tôi mà không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài.}
17. Lời Du'a khi Rukua'
سُبْحانَ رَبِّيَ العَظِيمِ
{Sub ha na rab bi yal ‘a zhim}, ý nghĩa: {Vinh quang thay Thượng Đế của bề tôi, Ngài vĩ đại nhất} Đọc lặp lại ba lần[57]. [57] Do các tác giả Sunan và Ahmad ghi: Abu Dawood ghi số (870), At-Tirmizdi số (262), An-Nasa-i số (1007), Ibnu Majah số (897), và Ahmad số (3514), và xem: Sahih At-Tirmizdi (1/83).
سُبْحَانَكَ اللَّهُمَّ رَبَّنَا وَبِحَمْدِكَ، اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِي[58]. [58] Al-Bukhari (1/99), số (794), và Muslim (1/350), số (484).
سُبُّوُحٌ، قُدُّوسٌ، رَبُّ المَلَائِكَةِ وَالرُّوحِ[59]. [59] Muslim (1/ 353) số (487), và Abu Dawood (1/ 230) số (872).
{Sub bu hun, cuđ đu sun, rab bul ma la i ka ti war ruh}, Ý nghĩa: {Vinh quang thay, trong sạch thay Thượng Đế của Thiên Thần và Jibril.}
اللَّهُمَّ لَكَ رَكَعْتُ، وَبِكَ آمَنْتُ، وَلَكَ أَسْلَمْتُ، خَشَعَ لَكَ سَمْعِي، وَبَصَرِي، وَمُخِّي، وَعَظْمِي، وَعَصَبِي، [وَمَا استَقَلَّتْ بِهِ قَدَمِي][60]. [60] Muslim (1/534) ghi số (771), và bốn vị ngoại trừ Ibnu Maajah: Abu Dawood ghi số (760) và (761), At-Tirmizdi ghi số (3421), và An-Nasa-i’ ghi số (1049), và phần trong ngoặc vuông là lời Hadith của Ibnu Khuzaimah ghi số (607), và Ibnu Hibban ghi số (1901).
{Ol lo hum ma la ka ro ka’ tu, wa bi ka a manh tu, wa la ka as lam tu, kho sha ‘a la ka sâm ‘i, wa ba so ri, wa mukh khi, wa ‘ozh mi, wa ‘a so bi, wa mas ta col lat bi hi co đa mi}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, vì Ngài mà bề tôi cúi đầu, vì Ngài mà bề tôi tin tưởng, vì Ngài mà bề tôi phủ phục, vì Ngài mà thính giác, thị giác, não, xương cốt lẫn toàn cơ thể và tất cả những gì đôi chân bề tôi chịu đựng đều kính sợ Ngài.}
سُبْحَانَ ذِي الجَبَرُوتِ، وَالمَلَكُوتِ، وَالكِبْرِيَاءِ، وَالعَظَمَةِ[61]. [61] Abu Dawood (1/230), số (873), và An-Nasa-i', số (1131), và Ahmad, số (23980), và Isnad của nó là Hasan.
{Sub ha na zdil ja ba rut, wal ma la kut, wal kib ri ya i, wal ‘a zho mah}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Đấng Thống Lãnh, Đấng sở hữu tất cả, Đấng Uy Quyền và Đấng Vĩ Đại.}
18. Lời du'a khi trở dậy từ Rukua'
سَمِعَ اللَّهُ لِمَنْ حَمِدَهُ[62]. [62] Al-Bukhari với Al-Fath (2/282), số (796).
{Sa mi ‘ol lo hu li manh ha mi đah}. Ý nghĩa: {Allah nghe thấy tất cả lời ca ngợi của ai tán dương ca tụng Ngài.}
رَبَّنَا وَلَكَ الحَمْدُ، حَمْدًا كَثيرًا طَيِّبًا مُبارَكًا فِيهِ[63]. [63] Al-Bukhari với Al-Fath (2/284) số (796).
{Rab ba na wa la kal hâm đu, hâm đanh ka thi ron, toy yi banh, mu ba ro kanh fih}. Ý nghĩa: {Lạy Thượng Đế của bầy tôi, mọi lời tạ ơn đều dành cho Allah, chỉ Ngài bầy tôi thành tâm ca tụng, hồng phúc thay cho điều đó.}
مِلْءَ السَّمَوَاتِ وَمِلْءَ الأَرْضِ، وَمَا بَيْنَهُمَا، وَمِلْءَ مَا شِئْتَ مِنْ شَيءٍ بَعْدُ. أَهلَ الثَّناءِ وَالمَجْدِ، أَحَقُّ مَا قَالَ العَبْدُ، وَكُلُّنَا لَكَ عَبْدٌ، اللَّهُمَّ لَا مَانِعَ لِمَا أَعْطَيْتَ، وَلَا مُعْطِيَ لِمَا مَنَعْتَ، وَلَا يَنْفَعُ ذَا الجَدِّ مِنْكَ الجَدُّ[64]. [64] Muslim (1/346), số (477).
{Mil as sa ma wat, wa mil al ar đhi wa ma bây na hu ma, wa mil a ma shi’ ta min shây in ba’d, ah lath tha na i wal maj đi, a hắq cu ma co lal ‘ab đu, wa kul lu na la ka ‘ab đu. Ol lo hum ma la ma ni ‘a li ma ‘a toy ta, wa la mua’ ti ya li ma ma na’ ta, wa la danh fa ‘u zdal jad đi min kal jad}. Ý nghĩa: {Trong các tầng trời, dưới đất và vạn vật giữa chúng đầy ắp lời ca tụng tán dương Allah, và đầy ắp cả những gì Ngài muốn sau đó. Allah là Chủ Nhân của mọi lời ca tụng tán dương, là Đấng Thống Lãnh mọi uy quyền, là Đấng xứng đáng được đám nô lệ của Ngài ca tụng, và tất cả bầy tôi đều là nô lệ của Ngài. Lạy Allah, sẽ không có quyền thống trị nào ngăn cản với những gì Ngài đã ban phát cũng như không có thế lực nào ban phát khi Ngài đã ngăn cấm và cũng không có sự giàu có nào giúp đỡ được bản thân y đối với Ngài ngoại trừ những việc làm tốt đẹp.}
19. Du'a khi quỳ lạy trong lễ nguyện Salah
سُبْحَانَ رَبِّيَ الأَعْلَى
{Sub ha na rab bi yal ‘a la}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Thượng Đế của bề tôi, Ngài tối cao nhất.} Đọc lặp lại ba lần[65]. [65] Abu Dawood ghi số (870), At-Tirmizdi ghi số (262), An-Nasa-i’ ghi số (1007), Ibn Majah ghi số (897), và Ahmad ghi số (3514), và xem: Sahih At-Tirmizdi (1/83).
سُبْحَانَكَ اللَّهُمَّ رَبَّنَا وَبِحَمْدِكَ، اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِي [66]. [66] Al-Bukhari, số (794), và Muslim, số (484), và đã được đề cập trước đó ở số (34).
{سُبُّوحٌ، قُدُّوسٌ، رَبُّ المَلَائِكَةِ وَالرُّوحِ}[67]. [67] Muslim (1/533) số (487), và Abu Dawood số (872) và đã được đề cập trước đó ở số (35).
{Sub bu hun, cuđ đu sun, rab bul ma la i ka ti war ruh}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay, trong sạch thay Thượng Đế của Thiên Thần và Jibril.}
اللَّهُمَّ لَكَ سَجَدْتُ وَبِكَ آمَنْتُ، وَلَكَ أَسْلَمْتُ، سَجَدَ وَجْهِيَ لِلَّذِي خَلَقَهُ، وَصَوَّرَهُ، وَشَقَّ سَمْعَهُ وَبَصَرَهُ، تَبَارَكَ اللَّهُ أَحْسَنُ الخَالِقِينَ[68]. [68] Muslim (1/534) số (771), và những người khác.
{Ol lo hum ma la ka sa jad tu, wa bi ka a manh tu, wa la ka as lâm tu, sa ja đa waj hi lil la zdi kho la co hu, wa sâu wa ro hu, wa shắq co sâm ‘a hu, wa ba so ro hu, ta ba ro lol lo hu ah sa nul kho li qin}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, vì Ngài mà bề tôi quỳ lạy, vì Ngài mà bề tôi tin tưởng và cũng vì Ngài mà bề tôi phủ phục. Bề tôi cúi mặt quỳ lạy Ngài, Đấng đã tạo hóa ra nó và làm cho nó hoàn hảo đồng thời tạo cho nó thính giác và thị giác, phúc thay Allah, Đấng xuất sắc nhất trong tạo hóa.}
سُبْحَانَ ذِي الجَبَرُوتِ، وَالمَلَكُوتِ، وَالكِبْرِيَاءِ، وَالعَظَمَةِ[69]. [69] Abu Dawood (1/230), số (873), và An-Nasa-i', số (1131), và Ahmad, số (23980), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Abu Dawood (1/166), và đã được trích dẫn trước đó ở số (37).
{Sub ha na zdil ja ba rut, wal ma la kut, wal kib ri ya i, wal ‘a zho mah}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Đấng Thống Lãnh, Đấng sở hữu tất cả, Đấng Uy Quyền và Đấng Vĩ Đại.}
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِي ذَنْبِي كُلَّهُ: دِقَّهُ وَجِلَّهُ، وَأَوَّلَهُ وَآخِرَهُ، وَعَلَانِيَّتَهُ وَسِرَّهُ[70]. [70] Muslim (1/230), số (483).
{Ol lo hum magh fir li zdâm bi kul la hu, điq co hu wa jil la hu, wa âu wa la hu wa a khi ro hu, wa ‘a la ni ya ta hu wa sir ro hu}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy tha thứ mọi tội lỗi cho bề tôi cho dù ít hay nhiều, cả quá khứ lẫn tương lai, công khai hay giấu kín.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِرِضَاكَ مِنْ سَخَطِكَ، وَبِمُعَافَاتِكَ مِنْ عُقوبَتِكَ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْكَ، لَا أُحْصِي ثَنَاءً عَلَيْكَ، أَنْتَ كَمَا أَثْنَيْتَ عَلَى نَفْسِكَ[71] [71] Muslim (1/352), số (486).
{Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ri đho ka min sa kho tik, wa bi mu ‘a fa ti ka min ‘u cu ba tik, wa a ‘u zdu bi ka min ka, la uh si tha na an ‘a lây ka, anh ta ka ma ath nay ta ‘a la naf sik}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin sự hài lòng của Ngài che chở khỏi sự giận dữ của Ngài, cầu xin sự thứ của Ngài tránh khỏi hình phạt của Ngài, xin Ngài đừng bắt tội về những gì bề tôi không có khả năng thực hiện, cho dù bề tôi có ca tụng Ngài thế nào cũng không thể đủ, Ngài là Đấng xứng đáng với những gì mà Ngài đã tự ca ngợi về bản thân mình.}
20. Du'a lúc ngồi giữa hai lần quỳ lạy trong lễ nguyện Salah
رَبِّ اغْفِرْ لِي، رَبِّ اغْفِرْ لِي[72]. [72] Abu Dawood (1/231) số (874), và Ibnu Majah số (897), và xem: Sahih Ibnu Majah (1/148).
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِي، وَارْحَمْنِي، وَاهْدِنِي، وَاجْبُرْنِي، وَعَافِنِي، وَارْزُقْنِي، وَارْفَعْنِي[73]." [73] Abu Dawood (1/231) ghi số (850), và At-Tirmizdi ghi số (284) và (285), và Ibnu Majah ghi số (898), và xem: Sahih At-Tirmizdi (1/90), và Sahih Ibnu Majah (1/148).
{Ol lo hum magh fir li, war hâm ni, wah đi ni, waj bur ni, wa ‘a fi ni, war zuq ni, war fa’ ni}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy tha thứ, khoan dung độ lượng và dẫn dắt bề tôi. Cầu xin Ngài ban cho bề tôi phú quí, sự lành mạnh, bổng lộc và nâng cao địa vị của bề tôi (ở trần gian và Đời Sau).}
21. Lời Du'a lúc sujud xướng đọc Qur'an
سَجَدَ وَجْهِيَ لِلَّذِي خَلَقَهُ، وَشَقَّ سَمْعَهُ وَبَصَرَهُ بِحَوْلِهِ وَقُوَّتِهِ، فَتَبارَكَ اللَّهُ أَحْسَنُ الخَالِقِينَ
{Sa ja đa waj hi lil la zdi kho la co hu, wa sâu wa ro hu, wa shắq co sâm ‘a hu, wa ba so ro hu, ta ba ro lol lo hu ah sa nul kho li qin}. Ý nghĩa: {Bề tôi cúi mặt quỳ lạy Ngài, Đấng đã tạo hóa ra nó và làm cho nó hoàn hảo đồng thời tạo cho nó thính giác và thị giác, phúc thay Allah, Đấng Ưu Việt trong tạo hóa.} [chương 23 - Al-Muminun, câu 14] [74]. [74] At-Tirmizdi (2/474) ghi số (3425), và Ahmad (6/30) ghi số (24022), và Al-Hakim xác thực là Sahih, được Az-Zahabi đồng tình (1/220) và phần thêm là của ông.
اللَّهُمَّ اكْتُبْ لِي بِهَا عِنْدَكَ أَجْرًا، وَضَعْ عَنِّي بِهَا وِزْرًا، وَاجْعَلْهَا لِي عِنْدَكَ ذُخْرًا، وَتَقَبَّلْهَا مِنِّي كَمَا تَقَبَّلْتَهَا مِنْ عَبْدِكَ دَاوُدَ[75]. [75] At-Tirmizdi (2/473) ghi số (579), và Al-Hakim ghi và xác thực là Sahih, được Azd-Zdahabi đồng tình (1/219).
{Ol lo hum mak tub li bi ha ‘in đa ka aj ro, wa đho’ ‘anh ni bi ha wiz ro, waj ‘al ha li ‘in đa ka zukh ro, wa ta cắp bal minh ni, ka ma ta cắp bal ta ha min ‘ab đi ka đa wud}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin Ngài hãy ghi nhận cái lạy này của bề tôi là một phần thưởng từ Ngài, hãy xóa cho bề tôi một tội lỗi và hãy biến nó thành một kho báu nơi Ngài. Cầu xin hãy chấp nhận nó giống như Ngài đã chấp nhận việc hành đạo của người nô lệ của Ngài, Dawood.}
22. Tashahhud
التَّحِيَّاتُ لِلَّهِ، وَالصَّلَواتُ، وَالطَّيِّبَاتُ، السَّلَامُ عَلَيْكَ أَيُّهَا النَّبِيُّ وَرَحْمَةُ اللَّهِ وَبَرَكَاتُهُ، السَّلَامُ عَلَيْنَا وَعَلَى عِبَادِ اللَّهِ الصَّالِحِينَ، أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَأَشْهَدُ أَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُهُ وَرَسولُهُ[76]. [76] Al-Bukhari với Al-Fath (2/311), số (831), và Muslim (1/301), số (402).
23. Salawat cho Nabi ﷺ sau Tashahhud
اللَّهُمَّ صَلِّ عَلَى مُحَمَّدٍ، وَعَلَى آلِ مُحَمَّدٍ، كَمَا صَلَّيتَ عَلَى إِبْرَاهِيمَ، وَعَلَى آلِ إِبْرَاهِيمَ، إِنَّكَ حَمِيدٌ مَجِيدٌ، اللَّهُمَّ بَارِكْ عَلَى مُحَمَّدٍ وَعَلَى آلِ مُحَمَّدٍ، كَمَا بَارَكْتَ عَلَى إِبْرَاهِيمَ وَعَلَى آلِ إِبْرَاهِيمَ، إِنَّكَ حَمِيدٌ مَجِيدٌ[77]. [77] Al-Bukhari với Al-Fath (6/408), số (3370), và Muslim, số (406).
اللَّهُمَّ صَلِّ عَلَى مُحَمَّدٍ وَعَلَى أَزْوَاجِهِ وَذُرِّيَّتِهِ، كَمَا صَلَّيْتَ عَلَى آلِ إِبْرَاهِيمَ، وَبَارِكْ عَلَى مُحَمَّدٍ وَعَلَى أَزْواجِهِ وَذُرِّيَّتِهِ، كَمَا بَارَكْتَ عَلَى آلِ إِبْرَاهِيمَ، إِنَّكَ حَمِيدٌ مَجِيدٌ[78]. [78] Al-Bukhari với Al-Fath (6/407), số (3369), và Muslim (1/306), số (407) và lời Hadith của Muslim.
{Ol lo hum ma sol li ‘a la mu hâm mách, wa ‘a la az wa ji hi, wa zdur ri ya ti hi, ka ma sol lây ta ‘a la a li ib ro him, wa ba rik ‘a la mu hâm mách, wa ‘a la az wa ji hi, wa zdur ri ya ti hi, ka ma ba rak ta ‘a la a li ib ro him, in na ka ha mi đun ma ji-đ}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban sự bình an và phúc lành cho Nabi Muhammad, cho các phu nhân và con cháu của Người giống như Ngài đã ban cho dòng tộc của Nabi Ibrahim. Quả thực, Ngài là Đấng Đáng Ca Tụng, Đấng Chí Tôn.}
24. Du'a sau Tashahhud cuối trước khi Salam.
اللَّهُــمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنْ عَذَابِ القَبْرِ، وَمِنْ عَذَابِ جَهَنَّمَ، وَمِنْ فِتْنَةِ المَحْيَا وَالمَمَاتِ، وَمِنْ شَرِّ فِتْنَةِ المَسِيحِ الدَّجَّالِ[79]. [79] Al-Bukhari (2/102) ghi số (1377) và Muslim (1/412) ghi số (588) và lời Hadith của Muslim.
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنْ عَذَابِ القَبْرِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ فِتْنَةِ المَسِيحِ الدَّجَّالِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ فِتْنَةِ المَحْيَا وَالمَمَاتِ، اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنَ المَأْثَمِ وَالمَغْرَمِ[80] [80] Al-Bukhari (1/202), số (832), và Muslim (1/412), số (587).
{Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka min ‘a zda bil cab ri, wa a ‘u zdu bi ka min fit na til ma si hiđ đaj jal, wa a ‘u zdu bi ka min fit na til mah ya, wal ma mat. Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka mi nal ma’ thâm wal magh râm}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin Ngài che chở tránh khỏi sự hành phạt nơi cõi mộ, tránh khỏi mọi thử thách cám dỗ khi Dajjal xuất hiện, xin Ngài che chở mọi thử thách lúc sống và trước khi chết. Lạy Allah, xin hãy che chở bề tôi tránh khỏi tội lỗi và nợ nần.}
اللَّهُمَّ إِنِّي ظَلَمْتُ نَفْسِي ظُلْمًا كَثِيرًا، وَلَا يَغْفِرُ الذُّنُوبَ إِلَّا أَنْتَ، فَاغْفِرْ لِي مَغْفِرَةً مِنْ عِنْدِكَ وَارْحَمْنِي، إِنَّكَ أَنْتَ الغَفُورُ الرَّحِيمُ[81]. [81] Al-Bukhari (8/168) số (834), và Muslim (4/2078) số (2705).
{Ol lo hum ma in ni zho lâm tu naf si zhul manh ka thi ro, wa la yagh fi ruzd zdu nu ba il la anh ta, fagh fir li magh fi ro tâm min ‘in đik, war hâm ni, in na ka anh tal gho fu rur ro him}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi đã bất công với chính mình rất nhiều, và không có ai tha thứ cho sự sai quấy đó ngoại trừ Ngài. Cầu xin Ngài lượng thứ, khoan dung cho bề tôi. Quả thực, Ngài là Đấng Khoan Dung, Đấng Nhân Từ.}
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِي مَا قَدَّمْتُ، وَمَا أَخَّرْتُ، وَمَا أَسْرَرْتُ، وَمَا أَعْلَنْتُ، وَمَا أَسْرَفْتُ، وَمَا أَنْتَ أَعْلَمُ بِهِ مِنِّي، أَنْتَ المُقَدِّمُ، وَأَنْتَ المُؤَخِّرُ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ[82]. [82] Muslim (1/534) số (771).
{Ol lo hum magh fir li ma cođ đâm tu, wa ma akh khar tu, wa ma as rar tu, wa ma ‘a lanh tu, wa ma as raf tu, wa ma anh ta ‘a la mu bi hi minh ni, anh tal mu cođ đim, wa anh tal mu akh khir, la i la ha il la anh ta}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy tha thứ cho mọi tội lỗi mà bề tôi đã từng phạm và tội lỗi sau này, cho những tội lỗi mà bề tôi đã giấu giếm và công khai, cho những tội lỗi đã tái phạm nhiều lần và cho những tội lỗi mà Ngài biết rõ hơn bề tôi. Ngài là Đấng Đầu Tiên, là Đấng Cuối Cùng mà không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài.}
اللَّهُمَّ أَعِنِّي عَلَى ذِكْرِكَ، وَشُكْرِكَ، وَحُسْنِ عِبادَتِكَ[83]. [83] Abu Dawood (2/86) số (1522), và An-Nasa-i' (3/53) số (2302), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Abu Dawood (1/284).
{Ol lo hum ma a ‘in ni ‘a la zdik ri ka, wa shuk ri ka, wa hus ni ‘i ba đa tik}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy phù hộ bề tôi luôn tán dương và tạ ơn Ngài và làm tốt trong việc thờ phượng Ngài.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنَ البُخْلِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنَ الجُبْنِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ أَنْ أُرَدَّ إِلَى أَرْذَلِ العُمُرِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ فِتْنَةِ الدُّنْيَا وَعَذَابِ القَبْرِ[84]. [84] Al-Bukhari với Al-Fath (6/35) số (2822) và (6390).
{Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka mi nal bukh li, wa a ‘u zdu bi ka mi nal jub ni, wa a ‘u zdu bi ka anh u rad đa i la ar zda lil ‘u mur, wa a ‘u zdu bi ka minh fit na tid đun ya, wa a ‘u zdu bi ka minh ‘a zda bil cốp ri}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh khỏi bản tính keo kiệt, bần tiện, hèn nhát, tránh khỏi việc bị đưa trở lại tuổi già yếu nhất (đến mức suy nhược, mất trí và bất lực), tránh khỏi sự thử thách của cuộc sống và cái chết và tránh khỏi sự trừng phạt nơi cõi mộ.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ الجَنَّةَ وَأَعُوذُ بِكَ مِنَ النَّارِ[85]. [85] Abu Dawood, số (792), Ibnu Majah, số (910), và xem: Sahih Ibnu Majah (2/328).
{Ol lo hum ma in ni as a lu kal jan nah, wa a ‘u zdu bi ka mi nan nar}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho Thiên Đàng và xin hãy bảo vệ bề tôi khỏi Hỏa Ngục.}
اللَّهُمَّ بِعِلْمِكَ الغَيْبَ وَقُدْرَتِكَ عَلَى الخَلقِ أَحْيِنِي مَا عَلِمْتَ الحَيَاةَ خَيْرًا لِي، وَتَوَفَّنِي إِذَا عَلِمْتَ الْوَفَاةَ خَيْرًا لِي، اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ خَشْيَتَكَ فِي الغَيْبِ وَالشَّهَادَةِ، وَأَسْأَلُكَ كَلِمَةَ الحَقِّ فِي الرِّضَا وَالغَضَبِ، وَأَسْأَلُكَ القَصْدَ فِي الغِنَى وَالفَقْرِ، وَأَسْأَلُكَ نَعِيمًا لَا يَنْفَدُ، وَأَسْأَلُكَ قُرَّةَ عَيْنٍ لَا تَنْقَطِعُ، وَأَسْأَلُكَ الرِّضَا بَعْدَ القَضَاءِ، وَأَسْأَلُكَ بَرْدَ العَيْشِ بَعْدَ المَوْتِ، وَأَسْأَلُكَ لَذَّةَ النَّظَرِ إِلَى وَجْهِكَ، وَالشَّوْقَ إِلَى لِقَائِكَ فِي غَيرِ ضَرَّاءَ مُضِرَّةٍ، وَلَا فِتْنَةٍ مُضِلَّةٍ، اللَّهُمَّ زَيِّنَا بِزِينَةِ الإِيمَانِ، وَاجْعَلْنَا هُدَاةً مُهْتَدِينَ[86] [86] An-Nasa-i' (3/54) (55) số (1304), và Ahmad (4/364) số (21666), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i' (1/281).
{Ol lo hum ma bi ‘il mi kal ghoi ba, wa cuđ ro ti ka ‘a lal khol ci, ah yi ni ma ‘a lim tal ha ya ta khoi ron li, wa taf fa ni i zda ‘a lim tal wa fa ta khoi ron li. Ol lo hum ma as a lu ka khash ya ta ka fil ghoi bi wash sha ha đah, wa as a lu ka ka li ma tal hắq ci fir ri đho wal gho đhab, wa as a lu ka cos đa fil ghi na wal faq ri, wa as a lu ka na ‘i manh la yan fađ, wa as a lu ka cur ro ta ‘ai nin la tan co te’, wa as a lu kar ri đho ba’ đal co đho, wa as a lu ka bar đal ‘ây shi ba’ đal mâu ti, wa as a lu ka ladz zda tanh na zho ri i la waj hik, wash shâu co i la li co ik, fi ghoi ri ghor ro a mu đhir roh, wa la fit na tin mu đhil lah. Ol lo hum ma zây zin na bi zi na til i man, waj ‘al na hu đa tanh muh ta đin}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài am tường mọi điều vô hình và có khả năng trên mọi tạo vật, xin hãy ban cho bề tôi được sống nếu cuộc sống tốt đẹp hơn đối với bề tôi, ngược lại hãy ban cho cái chết nếu sự chết đó tốt hơn đối với bề tôi. Cầu xin Ngài ban cho bề tôi lòng kính sợ Ngài trong mọi hoàn cảnh, công khai và riêng tư. Cầu xin ban cho bề tôi luôn nói đúng trong lúc hài lòng cũng như lúc giận. Cầu xin ban cho bề tôi cuộc sống vừa đủ, không quá giàu cũng không bần hàn. Cầu xin ban cho bề tôi sự hưởng thụ vĩnh viễn (ở Thiên Đàng) và sự vui vẻ, hạnh phúc không hồi kết. Cầu xin ban cho bề tôi sự hài lòng về định mệnh dù tốt hay xấu và sự thoải mái sau khi chết. Cầu xin ban cho sự sung sướng khi được nhìn thấy gương mặt Ngài và niềm mong ước được gặp Ngài. Cầu xin hãy trang hoàng đức tin cho bầy tôi và hãy ban cho bầy tôi thuộc nhóm người được hướng dẫn.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ يَا أَللَّهُ بِأَنَّكَ الوَاحِدُ الأَحَدُ الصَّمَدُ الَّذِي لَمْ يَلِدْ وَلَمْ يُولَدْ، وَلَمْ يَكُنْ لَهُ كُفُوًا أَحَدٌ، أَنْ تَغْفِرَ لِي ذُنُوبِي إِنَّكَ أَنْتَ الغَفُورُ الرَّحِّيمُ[87]. [87] An-Nasa-i' ghi số (3/52), số (1300) với lời của ông, và Ahmad ghi số (4/338), số (18974), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i' số (1/280).
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka ya ol loh, bi anh na kal wa hi đul a ha đus so mad, al la zdi lâm ya lid wa lâm yu lađ, wa lâm ya kun la hu ku fu wanh a hađ, anh tagh fi ro li zdu nu bi, in na ka anh tal gho fu rur ro him}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài, hỡi Allah, bởi Ngài là Đấng Duy Nhất, Đấng Tự Hữu, Đấng Độc Lập, Đấng mà tất cả (vạn vật) phải nhờ vả, Đấng không sinh ra ai và cũng không do ai sinh ra, và không một ai (hay vật gì) có thể so sánh với Ngài đặng, hãy tha thứ tội cho bề tôi. Quả thực, Ngài là Đấng Khoan Dung, Đấng Nhân Từ.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ بِأَنَّ لَكَ الحَمْدَ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ وَحْدَكَ لَا شَرِيكَ لَكَ، المَنَّانُ، يَا بَدِيعَ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ يَا ذَا الجَلَالِ وَالإِكْرَامِ، يَا حَيُّ يَا قَيُّومُ إِنِّي أَسْأَلُكَ الجَنَّةَ وَأَعُوذُ بِكَ مِنَ النَّارِ[88]. [88] Do các nhà biên soạn sách Sunan ghi lại: Abu Dawood ghi số (1495), At-Tirmizdi ghi số (3544), Ibnu Majah ghi số (3858), và An-Nasa-i' ghi số (1299), và xem: Sahih Ibnu Majah (2/329).
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka bi anh na la kal hâm đu, la i la ha il la anh ta wah đa ka la sha ri ka lak, al manh nan, ya ba đi ‘as sa ma wa ti wal ar đhi, ya zdal ja la li wal ik rom, ya hây yu ya coi yum, in ni as a lu kal janh nah, wa a ‘u zdu bi ka mi nanh nar}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài bởi vì Ngài là Đấng đáng được kính dâng tất cả mọi lời ca ngợi và tán dương. Không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài duy nhất, Ngài không có đối tác. Ngài là Đấng ban phát tất cả, Ngài là Đấng tạo hóa các tầng trời và trái đất, Ngài là Đấng Quyền Uy, Đấng Rộng Lượng, Ngài là Đấng Hằng Sống, Đấng Bất Diệt, cầu xin Ngài ban cho Thiên Đàng và xin bảo vệ bề tôi khỏi Hỏa Ngục.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ بِأَنَّي أَشْهَدُ أَنَّكَ أَنْتَ اللَّهُ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ الأَحَدُ الصَّمَدُ الَّذِي لَمْ يَلِدْ وَلَمْ يُولَدْ وَلَمْ يَكُنْ لَهُ كُفُوًا أَحَدٌ[89]. [89] Abu Dawood (2/62) ghi số (1493), và At-Tirmizdi (5/515) ghi số (3475), và Ibnu Majah (2/1267) ghi số (3857), và An-Nasa-i' ghi số (1300) với lời của ông, và Ahmad ghi số (18974), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i' (1/280), và xem: Sahih Ibnu Majah (2/329), và Sahih At-Tirmizdi (3/163).
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka bi anh na ni ash ha đu anh na ka anh tol lo hu la i la ha il la anh ta, al a ha đus so mad, al la zdi lâm ya liđ wa lâm yu lađ, wa lâm ya kun la hu ku fu wanh a hađ}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài bởi việc bề tôi chứng nhận Ngài là Allah, Đấng Duy Nhất, không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài. Ngài là Đấng Tự Hữu. Ngài không sinh ra ai và cũng không do ai sinh ra, (mà là Đấng Tạo Hóa). Và không có một ai (cái gì) có thể so sánh cùng Ngài.}
25. Các lời tụng niệm sau Salam của lễ nguyện Salah
أَسْتَغْفِرُ اللَّهَ
{As tứ fi rul loh}. Ý nghĩa: {Bề tôi cầu xin Allah tha thứ} (Ba lần) اللَّهُمَّ أَنْتَ السَّلَامُ، وَمِنْكَ السَّلَامُ، تَبَارَكْتَ يَا ذَا الجَلَالِ وَالإِكْرَامِ[90]. [90] Muslim (1/414), số (591).
{Ol lo hum ma anh tas sa lam, qua min cas sa lam, ta ba rấk ta zdal ja la li wal ik rom.}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Đấng Bình An và sự bình an đến từ Ngài. Ngài là Đấng có quyền uy tối cao và rộng lượng, Ngài là Đấng ban sự may mắn và hạnh phúc.}
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la cul li shây in co đir.}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác. Mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ.} [Ba lần] اللَّهُمَّ لَا مَانِعَ لِمَا أَعْطَيْتَ، وَلَا مُعْطِيَ لِمَا مَنَعْتَ، وَلَا يَنْفَعُ ذَا الجَدِّ مِنْكَ الجَدُّ[91]. [91] Al-Bukhari (1/255), số (844), và Muslim (1/414), số (593), và đoạn trong ngoặc vuông là phần thêm từ Al-Bukhari, số (6473).
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir. La hâu la wa la cu wa ta il la bil lah. La i la ha il lol loh, wa la na' bu đu il la i ya hu, la hun ne' ma tu, wa la hul fodh lu, wa la huth tha na ul ha sanh. La i la ha il lol lo hu mukh li si na la huđ đin, qua lâu ka ri hal ka fi run}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác. Mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ. Không có quyền năng hay quyền thống trị nào ngoài quyền năng và quyền thống trị của Allah. Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, bầy tôi không tôn thờ (bất cứ thần linh nào) ngoại trừ Ngài (duy nhất). Mọi hồng ân, mọi sự ưu đãi và mọi lời ca ngợi tán dương tốt đẹp đều là của Ngài. Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, bầy tôi thành tâm thờ phụng Ngài cho dù những kẻ ngoại đạo không thích.} سُبْحَانَ اللَّهِ، وَالحَمْدُ لِلَّهِ، وَاللَّهُ أَكْبَرُ
{Sub ha nol loh; Wal hâm đu lil lah; Wol lo hu ak bar}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah; Và mọi lời ca ngợi đều kính dâng Allah; Và Allah vĩ đại nhất} (33 lần), لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ المُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ[93]. [93] Muslim (1/418) số (597), trong đó ghi: {Ai nói điều đó sau mỗi lễ nguyện Salah, các tội lỗi của y sẽ được tha thứ cho dù chúng có nhiều như bọt biển.}
(1) {قُلۡ هُوَ ٱللَّهُ أَحَدٌ} - "Qul hu wol lo hu a hađ" (2) {ٱللَّهُ ٱلصَّمَدُ} - “Ol lo hus so mađ.” (3) {لَمۡ يَلِدۡ وَلَمۡ يُولَدۡ} - “Lâm da liđ wa lâm du lađ” (4) {وَلَمۡ يَكُن لَّهُۥ كُفُوًا أَحَدُۢ} - “Wa lâm da kul la hu ku fu wan a hađ.” (chương 112 - Al-Ikhlas, câu 1-4).
(1) {قُلۡ أَعُوذُ بِرَبِّ ٱلۡفَلَقِ} - "Qul a u zdu bi rab bil fa laq". (2) {مِن شَرِّ مَا خَلَقَ} - “Min shar ri ma kho laq.” (3) {وَمِن شَرِّ غَاسِقٍ إِذَا وَقَبَ} - “Wa min shar ri gho si qin i zda wa qab.” (4) {وَمِن شَرِّ ٱلنَّفَّٰثَٰتِ فِي ٱلۡعُقَدِ} - “Wa min shar rin naf fa tha ti fil u qođ.” (5) {وَمِن شَرِّ حَاسِدٍ إِذَا حَسَدَ} - "Wa min shar ri ha si đin i zda ha sađ" [chương 113 - Al-Falaq: 1 - 5].
(1) {قُلۡ أَعُوذُ بِرَبِّ ٱلنَّاسِ} - "Qul a u zdu bi rab bin nas} (2) {مَلِكِ ٱلنَّاسِ} - "Ma li kin nas" (3) {إِلَٰهِ ٱلنَّاسِ} - "I la hin nas" (4) {مِن شَرِّ ٱلۡوَسۡوَاسِ ٱلۡخَنَّاسِ} - "Min shar ril was wa sil khon nas" (5) {ٱلَّذِي يُوَسۡوِسُ فِي صُدُورِ ٱلنَّاسِ} - "Al la zdi du was wi su fi su đu rin nas" (6) {مِنَ ٱلۡجِنَّةِ وَٱلنَّاسِ} - "Mi nal jin na ti wan nas" [chương 114 - An-Nas: 1 - 6].
Sau mỗi lễ nguyện Salah[94]. [94] Abu Dawood (2/86) số (1523), và At-Tirmizdi số (2903), và An-Nasa-i' (3/68) số (1335), và xem: Sahih At-Tirmizdi (2/8). Và ba chương kinh được gọi là: Al-Mu'awwidhat. Xem: Fath Al-Bari (9/62).
{Ol lo hu la i la ha il la hu wal hây dul qoi du-m, la ta khu zdu hu si na tu wa la nâum, la hu ma fis sa ma wa ti wa ma fil arđ, man zdal la zdi das fa u in đa hu il la bi izd nih, da' la mu ma bây na ây đi him wa ma khol fa hum, wa la du hi tu na bi shây in min il mi hi il la bi ma sha', wa si a ku si du hus sa ma wa ti wal arđ, wa la da u đu hu hif zhu hu ma wa hu wal a li dul a zhi-m} - {Allah (là Thượng Đế), không có Thượng Đế (đích thực) nào ngoài Ngài, Đấng Hằng Sống, Đấng Bất Diệt, Ngài không ngủ và cũng không buồn ngủ. Tất cả vạn vật trong các tầng trời và tất cả vạn vật trong trái đất đều thuộc về Ngài. Không ai có quyền can thiệp (biện minh, cầu xin ân xá cho ai) trước Ngài trừ phi Ngài cho phép. Ngài biết hết mọi điều xảy ra phía trước họ và đằng sau họ, không một ai đủ năng lực biết được kiến thức của Ngài ngoại trừ điều nào Ngài muốn cho y biết. Kursi (Bệ gác chân) của Ngài bao trùm hết cả các tầng trời và trái đất, và việc quản lý trời đất không làm Ngài mỏi mệt bởi Ngài là Đấng Tối Thượng, Đấng Vĩ Đại.} (chương 2 – Al-Baqarah: 255) Sau mỗi lễ nguyện Salah[95]. [95] {Ai đọc câu Al-Kursi sau mỗi lễ nguyện Salah, không có gì ngăn cản y vào Thiên Đàng ngoại trừ cái chết.} An-Nasa-i trong Amal Al-Yawm wal-Laylah số (100), và Ibnu As-Sunni số (121), và được Al-Albani xác thực trong Sahih Al-Jami' (5/339), và Silsilah Al-Ahadith As-Sahihah (2/697), số (972).
لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ المُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ يُحْيِي وَيُمِيتُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, yuh yi wa yu mit, wa hu wa ‘a la cul li shây in co đir}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài, Đấng làm cho sống, Đấng làm cho chết, và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ.} Mười lần sau Salah Maghrib và Fajr[96]. [96] At-Tirmizdi (5/515), số (3474), và Ahmad (4/227), số (17990), và xem nguồn trích dẫn trong Zad al-Ma'ad (1/300).
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ عِلْمًا نافِعًا، وَرِزْقًا طَيِّبًا، وَعَمَلًا مُتَقَبَّلًا
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka ‘il manh na fi ‘a, wa riz conh toi yi ba, wa ‘a ma lanh mu ta cắp ba la}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho sự hiểu biết có lợi, ban cho bổng lộc tốt đẹp và chấp nhận việc làm của bề tôi.} Sau Salam của lễ Salah Fajr[97]. [97] Ibnu Majah ghi số (925), và An-Nasa-i' ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah số (102), và xem: Sahih Ibnu Majah (1/152), và Majma' Az-Zawa-id (10/111), và sẽ được đề cập ở số (95).
26. Lời Du'a của Salah Istikharah.
Ông Jabir bin 'Abdullah thuật lại rằng: Thiên Sứ của Allah ﷺ đã dạy chúng tôi Istikharah (cầu xin quyết định một sự việc) trong tất cả các vấn đề giống như Người ﷺ dạy chúng tôi một chương Kinh Qur'an, Người nói: {Nếu ai trong các ngươi có dự định làm một việc gì đó, hãy lễ nguyện Salah hai Rak'ah ngoài lễ nguyện Salah bắt buộc, sau đó hãy nói: {Ol lo hum ma in ni as ta khi ru ka bi ‘il mi ka, wa as taq đi ru ka bi đuq ro ti ka, wa as a lu ka min fodh likal ‘a zhim, fa in na ka taq đi ru wa la aq đir, wa ta’ la mu wa la ‘a lâm, wa anh ta ‘al la mul ghu yub. Ol lohum ma in kun ta ta’ la mu an na ha zdal am ro (nếu vấn đề) khoi run li fi đi ni, wa ma ‘a shi wa ‘a ci ba ti âm ri (hoặc thêm: ‘a ji li hi wa a ji li hi) faq đur hu li, wa yas sir hu li, thum ma ba rik li fi hi; wa in kun ta ta’ la mu anh na ha zdal am ro shar run li fi đi ni wa ma ‘a shi wa ‘a ci ba ti âm ri (hoặc thêm: ‘a ji li hi wa a ji li hi) fos rif hu ‘anh ni, wos rif ni ‘anh hu, woq đur li yal khoi ro hây thu ma kan, thum ma ar đhi ni bi hi}[98]. [98] Al-Bukhari (7/162), số (1162).
Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin điều tốt, điều có lợi trong kiến thức của Ngài, cầu xin ban cho bề tôi năng lực vì Ngài là Đấng có sức mạnh vô biên, cầu xin sự ưu đãi vĩ đại nơi Ngài, bởi Ngài có sức mạnh còn bề tôi thì không, Ngài am tường tất cả mọi việc vô hình còn bề tôi thì không. Lạy Allah, nếu như vấn đề này tốt cho tôn giáo, tốt cho cuộc sống và tốt cho kết quả cuối cùng của bề tôi thì hãy ban cho bề tôi có năng lực và sự dễ dàng khi thực hiện, rồi hãy ban phúc lành vào việc làm này cho bề tôi. Bằng ngược lại, việc này sẽ gây bất lợi hại đến tôn giáo cũng như trong cuộc sống lẫn kết quả cuối cùng của bề tôi, xin hãy mang nó tránh xa bề tôi và hãy mang bề tôi tránh xa nó, và hãy đặt định mệnh lại cho bề tôi với những gì tốt đẹp hơn, rồi hãy khiến cho bề tôi hài lòng về nó.}
Và không một ai phải hối hận khi cầu xin sự lựa chọn từ Đấng Tạo Hóa, tham khảo ý kiến của những người có đức tin và thận trọng trong công việc của mình, quả thật Allah Tối Cao đã phán: {...và hãy bàn bạc tham khảo ý kiến với họ. Và khi Ngươi đã quyết định thì hãy phó thác cho Allah...}[99] [99] (chương 3 – Ali 'Imran: 159).
27. Các lời tụng niệm sáng chiều
{Al hâm đu lil la hi wah đah, wos so la tu was sa la mu 'a la mal la na bi ya ba' đah}[100]. [100] Ông Anas thuật lại (rằng Thiên Sứ ﷺ nói): {Việc Ta ngồi cùng một nhóm người tưởng nhớ Allah Tối Cao từ Salah Fajr cho đến khi mặt trời mọc được Ta yêu thích hơn việc giải phóng bốn nô lệ thuộc con cháu của Isma'il, và việc Ta ngồi cùng một nhóm người tưởng nhớ Allah từ Salah 'Asr cho đến khi mặt trời lặn được Ta yêu thích hơn việc giải phóng bốn nô lệ.} Abu Dawood Số (3667), và được Al-Albani đánh giá là Hasan trong Sahih Abu Dawood (2/698).
A 'u zdu bil la hi mi nash shây to nir ro jim
{Ol lo hu la ila ha il la hu wal hây dul qoi dum, la ta' khu zdu hu si na tu wa la nâum, la hu ma fis sa ma wa ti wa ma fir ardh, man zdal la zdi das fa u in đa hu il la bi izd nih, da' la mu ma bây na ây đi him wa ma khol fa hum, wa la du hi tu na bi shây im min il mi hi il la bi ma sha', wa si a kur si du hus sa ma wa ti wal ardh, wa la da u đu hu hif zhu hu ma wa hu wal a li dul a zhim.} (chương 2 – Al-Baqarah: 255)[101]. [101] {Ai nói vào buổi sáng sẽ được bảo vệ khỏi loài Jinn cho đến buổi chiều, và ai nói vào buổi chiều sẽ được bảo vệ khỏi chúng cho đến buổi sáng.} Al-Hakim ghi (1/562), được Al-Albani xác nhận Sahih trong Sahih At-Targhib wa At-Tarhib (1/273), ông quy nguồn cho An-Nasa'i và At-Tabarani, và nói: "Đường truyền của At-Tabarani là tốt."
{Qul hu wol lo hu a hađ. Ol lo hus so mađ. Lâm da lid wa lâm du lađ Wa lâm da kul la hu ku fu wan a hađ.} (chương 112 - Al-Ikhlas, câu 1-4).
{Qul a u zdu bi rab bil fa laq. Min shar ri ma kho laq. Wa min shar ri gho si qin i zda wa qab. Wa min shar rin naf fa tha ti fil u qođ. Wa min shar ri ha si đin i zda ha sađ.} [chương 113 - Al-Falaq: 1-5].
{Qul a u zdu bi rab bin nas. Ma li kin nas. I la hin nas. Min shar ril was wa sil khon nas. Al lâ zdi du was wi su fi su đu rin nas. Min nal jin na ti wan nas.} [chương 114 - An-Nas, câu 1-6] "(Ba lần)"[102]. [102] {Bất cứ ai nói nó ba lần vào buổi sáng và vào buổi chiều thì nó sẽ đủ cho y khỏi mọi thứ}. Do Abu Dawood ghi lại (4/322), số 5082; và At-Tirmizdi (5/567), số 3575; và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/182).
أَصْبَحْنَا وَأَصْبَحَ المُلْكُ لِلَّهِ، وَالحَمْدُ لِلَّهِ، لَا إِلَهَ إلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ الْمُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ، رَبِّ أَسْأَلُكَ خَيْرَ مَا فِي هَذَا اليَوْمِ وَخَيرَ مَا بَعْدَهُ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ مَا فِي هَذَا اليَوْمِ وَشَرِّ مَا بَعْدَهُ، رَبِّ أَعُوذُ بِكَ مِنَ الكَسَلِ وَسُوءِ الكِبَرِ، رَبِّ أَعُوذُ بِكَ مِنْ عَذَابٍ فِي النَّارِ وَعَذَابٍ فِي القَبْرِ[103]. [103] Muslim (4/2088) số (2723).
{Os bah na, wa os ba hal mul ku lil lah, Wal hâm đu lil lah, La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir; Rab bi as a lu ka khoi ro ma fi ha zdal yâum, wa khoi ro ma ba’ đa hu; wa a ‘u zdu bi ka min shar ri ma fi ha zdal yâum, wa shar ri ma ba’ đa hu. Rab bi a ‘u zdu bi ka mi nal ka sal, wa su il ki bar, rab bi a ‘u zdu bi ka min ‘a zda bin fin nar, wa ‘a zda bin fil cab ri}. Ý nghĩa: {Bình minh đã trở lại với bầy tôi nhưng quyền thống trị, và mọi lời ca ngợi vẫn là của Allah, mà không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah duy nhất không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ. Lạy Thượng Đế, bề tôi thành khẩn Ngài ban cho mọi điều tốt đẹp của ngày hôm nay và của ngày mai, cũng như khẩn cầu Ngài che chở khỏi mọi điều xấu của ngày hôm nay và của ngày mai. Lạy Thượng Đế, cầu xin Ngài che chở khỏi sự lười biếng, sự tự cao, khỏi mọi đại nạn, khỏi những hình phạt của Hỏa Ngục và hình phạt nơi cõi mộ.}
Và khi đến buổi chiều, nói: أَمْسَيْنَا وَأَمْسَى الْمُلْكُ لِلَّهِ، وَالحَمْدُ لِلَّهِ، لَا إِلَهَ إلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ الْمُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ، رَبِّ أَسْأَلُكَ خَيْرَ مَا فِي هَذِهِ اللَّيْلَةِ، وَخَيْرَ مَا بَعْدَهَا، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ مَا فِي هَذِهِ اللَّيْلَةِ، وَشَرِّ مَا بَعْدَهَا، رَبِّ أَعُوذُ بِكَ مِنَ الكَسَلِ وَسُوءِ الكِبَرِ، رَبِّ أَعُوذُ بِكَ مِنْ عَذَابٍ فِي النَّارِ وَعَذَابٍ فِي القَبْرِ [104]. [104] Cùng nguồn trước đó.
{Âm sây na wa âm sal mul ku lil lah, Wal hâm đu lil lah, La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir; Rab bi as a lu ka khoi ro ma fi ha zdi hil lây lah, wa khoi ro ma ba’ đa ha; wa a ‘u zdu bi ka min shar ri ma fi ha zdi hil lây lah, wa shar ri ma ba’ đa ha. Rab bi a ‘u zdu bi ka mi nal ka sal, wa su il ki bar, rab bi a ‘u zdu bi ka min ‘a zda bin fin nar, wa ‘a zda bin fil cốp ri}. Ý nghĩa: {Khi hoàng hôn xuống mọi quyền thống trị và mọi lời ca ngợi vẫn là của Allah, không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah duy nhất không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ. Lạy Thượng Đế, bề tôi cầu xin Ngài mọi điều tốt đẹp của đêm hôm nay và của đêm mai. Và cầu xin Ngài che chở tránh mọi điều xấu của đêm nay và của đêm mai. Lạy Thượng Đế, cầu xin Ngài che chở tránh khỏi sự lười biếng, khỏi mọi tai nạn khủng khiếp, khỏi tất cả hình phạt của Hỏa Ngục và hình phạt dưới ngôi mộ.}
اللَّهُمَّ بِكَ أَصْبَحْنَا، وَبِكَ أَمْسَيْنَا، وَبِكَ نَحْيَا، وَبِكَ نَمُوتُ وَإِلَيْكَ النُّشُورُ[105]. [105] At-Tirmizdi (5/466), số (3391), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/142).
{Ol lo hum ma bi ka os bah na, wa bi ka âm sây na, wa bi ka nah ya, wa bi ka na mut, wa i lây kanh nu shur}. Ý nghĩa: {Lạy Allah! Bởi Ngài mà bầy tôi bước vào buổi sáng; bởi Ngài mà bầy tôi bước vào buổi chiều; bởi Ngài mà bầy tôi được sống; bởi Ngài mà bầy tôi chết; và về nơi Ngài bầy tôi được phục sinh.}
Và khi đến buổi chiều nói: اللَّهُمَّ بِكَ أَمْسَيْنَا، وَبِكَ أَصْبَحْنَا، وَبِكَ نَحْيَا، وَبِكَ نَمُوتُ، وَإِلَيْكَ الْمَصِيرُ [106]. [106] Cùng nguồn trước đó.
{Ol lo hum ma bi ka âm sây na, wa bi ka os bah na, wa bi ka nah ya, wa bi ka na mut, wa i lây kal ma sir}. Ý nghĩa: {Lạy Allah! Bởi Ngài mà bầy tôi bước vào buổi sáng; bởi Ngài mà bầy tôi bước vào buổi chiều; bởi Ngài mà bầy tôi được sống; bởi Ngài mà bầy tôi chết; và với Ngài bầy tôi trở về.}
اللَّهُمَّ أَنْتَ رَبِّي لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ، خَلَقْتَنِي وَأَنَا عَبْدُكَ، وَأَنَا عَلَى عَهْدِكَ وَوَعْدِكَ مَا اسْتَطَعْتُ، أَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ مَا صَنَعْتُ، أَبُوءُ[107] لَكَ بِنِعْمَتِكَ عَلَيَّ، وَأَبُوءُ بِذَنْبِي فَاغْفِرْ لِي فَإِنَّهُ لَا يَغْفِرُ الذُّنُوبَ إِلَّا أَنْتَ[108] [107] Tôi thừa nhận và thú nhận. [108] {Ai nói lời Du'a này bằng niềm tin kiên định vào nó vào buổi chiều, và chết trong đêm đó, sẽ được vào Thiên Đàng, và tương tự như vậy khi vào buổi sáng.} Al-Bukhari ghi lại (7/150), số 6306.
اللَّهُمَّ إِنِّي أَصْبَحْتُ أُشْهِدُكَ، وَأُشْهِدُ حَمَلَةَ عَرْشِكَ، وَمَلَائِكَتِكَ، وَجَمِيعَ خَلْقِكَ، أَنَّكَ أَنْتَ اللَّهُ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ وَحْدَكَ لَا شَرِيكَ لَكَ، وَأَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُكَ وَرَسُولُكَ
{Ol lo hum ma in ni os bah tu ush hi đu ka, wa ush hi đu ha ma la ta ‘ar shik, wa ma la i ka tak, wa ja mi ‘a khol cik, anh na ka anh tol lo hu la i la ha il la anh ta wah đa ka la sha ri ka lak, wa anh na mu hâm ma đanh ‘ắp đu ka wa ro su luk}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi xin chứng nhận Ngài vào buổi sáng, xin chứng nhận các Thiên Thần khuân Ngai Vương của Ngài, các Thiên Thần (xung quanh) Ngài và tất cả mọi tạo vật của Ngài. Quả thực, Ngài là Allah, không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài duy nhất, Ngài không có đối tác ngang vai và Muhammad là Nô Lệ, là Thiên Sứ của Ngài.} Bốn lần [109]. [109] {Ai nói câu này vào buổi sáng hoặc buổi chiều bốn lần, Allah sẽ phóng thích y khỏi Hỏa Ngục}. Abu Dawood ghi lại (4/317), số 5071; Al-Bukhari trong Al-Adab Al-Mufrad, số 1201; An-Nasa’i trong 'Amal Al-Yawm wal-Laylah, số 9; và Ibnu As-Sunni, số 70. Và Ngài Sheikh Ibn Bazz đã xác thực là Hasan đối với chuỗi truyền của An-Nasa’i và Abu Dawood trong Tuhfah Al-Akhyar (tr. 23).
Và khi vào buổi chiều, nói: اللَّهُمَّ إِنِّي أَمْسَيْتُ أُشْهِدُكَ، وَأُشْهِدُ حَمَلَةَ عَرْشِكَ، وَمَلَائِكَتِكَ، وَجَمِيعَ خَلْقِكَ، أَنَّكَ أَنْتَ اللَّهُ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ وَحْدَكَ لَا شَرِيكَ لَكَ، وَأَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُكَ وَرَسُولُكَ
{Ol lo hum ma in ni âm sây tu ush hi đu ka, wa ush hi đu ha ma la ta ‘ar shik, wa ma la i ka tak, wa ja mi ‘a khol cik, anh na ka anh tol lo hu la i la ha il la anh ta wah đa ka la sha ri ka lak, wa anh na mu hâm ma đanh ‘ắp đu ka wa ro su luk}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi xin chứng nhận Ngài vào buổi chiều, xin chứng nhận các Thiên Thần khuân Ngai Vương của Ngài, các Thiên Thần (xung quanh) Ngài và tất cả mọi tạo vật của Ngài. Quả thực, Ngài là Allah, không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài duy nhất, Ngài không có đối tác ngang vai và Muhammad là Nô Lệ, là Thiên Sứ của Ngài.} Bốn lần [110]. [110] Cùng nguồn trước đó.
اللَّهُمَّ مَا أَصْبَحَ بِي مِنْ نِعْمَةٍ أَوْ بِأَحَدٍ مِنْ خَلْقِكَ فَمِنْكَ وَحْدَكَ لَا شَرِيكَ لَكَ، فَلَكَ الحَمْدُ وَلَكَ الشُّكْرُ [111]. [111] {Ai nói lời này vào mỗi sáng thì y đã hoàn thành việc tạ ơn cho ngày của mình, và ai nói lời này vào mỗi chiều thì y đã hoàn thành việc tạ ơn cho đêm của mình.} Abu Dawood (4/318) ghi ở số (5075). An-Nasa-i ghi trong Tập 'Amal Al-Yaum wal-Lailah, số (7). Ibn As-Sunni ghi ở số (41). Ibn Hibban ghi trong ((Mawarid)), số (2361). Và Ibn Baz - Cầu xin Allah thương xót ông - đánh giá Isnad của nó là Hasan trong Tập Tuhfah Al-Akhyar (tr 24).
{Ol lo hum ma ma os ba ha bi min ne’ mah, âu bi a ha đinh min khol cik, fa min ka wah đa ka la sha ri ka lak, fa la kal hâm đu wa la kash shuk ru}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, mọi hồng ân vào mỗi sáng của bề tôi là do Ngài duy nhất ban cho, không có ai cộng tác với Ngài, tất cả mọi lời ca ngợi, mọi lời tán dương, mọi lời tạ ơn đều dâng lên Ngài.}
Khi đến buổi chiều nói: اللَّهُمَّ مَا أَمْسَى بِي مِنْ نِعْمَةٍ أَوْ بِأَحَدٍ مِنْ خَلْقِكَ فَمِنْكَ وَحْدَكَ لَا شَرِيكَ لَكَ، فَلَكَ الحَمْدُ وَلَكَ الشُّكْرُ [112] [112] Cùng nguồn trước đó.
{Ol lo hum ma ma âm sa bi min ne’ mah, âu bi a ha đinh min khol cik, fa min ka wah đa ka la sha ri ka lak, fa la kal hâm đu wa la kash shuk ru}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, mọi hồng ân vào mỗi chiều của bề tôi là do Ngài duy nhất ban tặng, không có ai cộng tác với Ngài, tất cả mọi lời ca ngợi, mọi lời tán dương, mọi lời tạ ơn đều dâng lên Ngài.}
اللَّهُمَّ عَافِنِي فِي بَدَنِي، اللَّهُمَّ عَافِنِي فِي سَمْعِي، اللَّهُمَّ عَافِنِي فِي بَصَرِي، لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ، اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنَ الكُفْرِ، وَالفَقْرِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ عَذَابِ القَبْرِ، لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ
{Ol lo hum ma ‘a fi ni fi ba đa ni, ol lo hum ma ‘a fi ni fi sâm ‘i, ol lo hum ma ‘a fi ni fi ba so ri, la i la ha il la anh ta. Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka mi nal kuf ri, wal faq ri, wa a ‘u zdu bi ka min ‘a zda bil cốp ri, la i la ha il la anh ta}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban sự lành mạnh cho cơ thể bề tôi, cho thính giác của bề tôi, cho thị giác của bề tôi. Không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài. Lạy Allah, xin Ngài che chở bề tôi khỏi sự phản đạo, sự nghèo khổ và sự trừng phạt nơi cõi mộ. Không có Thượng Đế nào đích thực ngoài Ngài.} Ba lần[113]. [113] Abu Dawood (4/324) số (5092), và Ahmad (5/42) số (20430), và An-Nasa-i' trong 'Amal Al-Yawm wal-Laylah số (22), và Ibnu As-Sunni số (69), và Al-Bukhari trong Al-Adab Al-Mufrad số (701), và Ibn Bazz đã xếp loại Isnad của nó là Hasan trong Tuhfat Al-Akhyar (tr 26).
حَسْبِيَ اللَّهُ لَا إِلَهَ إِلَّا هُوَ عَلَيهِ تَوَكَّلتُ وَهُوَ رَبُّ العَرْشِ العَظِيمِ
{Has bi yol lo hu la i la ha il la hu, ‘a lây hi ta wak kal tu, wa hu wa rấp bul ‘ar shil ‘a zhim}. Ý nghĩa: {Allah thừa khả năng giúp đỡ bề tôi, bởi không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài, bề tôi phó thác cho Ngài và Ngài là Chủ Nhân của ngai vương vĩ đại.} Bảy lần[114]. [114] {Ai đọc lời Du'a này vào buổi sáng và vào buổi chiều bảy lần, thì Allah sẽ lo đủ cho y những gì làm y bận tâm về những việc của thế gian và Đời Sau.} Ibnu As-Sunni ghi lại, số (71) dưới dạng Marfu'; và Abu Dawood dưới dạng Mawquf (4/321), số (5081). Shu’aib và Abdul Qadir Al-Arna’ut đã xác thực chuỗi truyền (Isnad) của nó là Sahih. Xem: Zad Al-Ma’ad (2/376).
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ العَفْوَ وَالعَافِيَةَ فِي الدُّنْيَا وَالآخِرَةِ، اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ العَفْوَ وَالعَافِيَةَ: فِي دِينِي وَدُنْيَايَ وَأَهْلِي، وَمَالِي، اللَّهُمَّ اسْتُرْ عَوْرَاتِي، وَآمِنْ رَوْعَاتِي، اللَّهُمَّ احْفَظْنِي مِنْ بَينِ يَدَيَّ، وَمِنْ خَلْفِي، وَعَنْ يَمِينِي، وَعَنْ شِمَالِي، وَمِنْ فَوْقِي، وَأَعُوذُ بِعَظَمَتِكَ أَنْ أُغْتَالَ مِنْ تَحْتِي[115] [115] Abu Dawood, số (5074), và Ibn Majah, số (3871), và xem: Sahih Ibnu Majah (2/332).
اللَّهُمَّ عَالِمَ الغَيْبِ وَالشَّهَادَةِ فَاطِرَ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ، رَبَّ كُلِّ شَيْءٍ وَمَلِيكَهُ، أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ، أَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ نَفْسِي، وَمِنْ شَرِّ الشَّيْطانِ وَشَرَكِهِ، وَأَنْ أَقْتَرِفَ عَلَى نَفْسِي سُوءًا، أَوْ أَجُرَّهُ إِلَى مُسْلِمٍ[116]. [116] At-Tirmizdi, số (3392), và Abu Dawood, số (5067), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/142).
{Ol lo hum ma ‘a li mal ghoi bi wash sha ha đah, fa ti ros sa ma wa ti wal ar đhi, rấp ba kul li shây in wa ma li kah, ash ha đu al la i la ha il la anh ta, a ‘u zdu bi ka minh shar ri naf si, wa minh shar rish shây to ni wa shir kih, wa an ắc ta ri fa ‘a la naf si su anh, âu a jur ro hu i la mus lim}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Đấng Am Tường mọi việc vô hình và hữu hình, Đấng Khởi Tạo các tầng trời và trái đất, Thượng Đế của tất cả vạn vật và quyền thống trị thuộc về riêng Ngài, bề tôi chứng nhận không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài, bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh mọi điều xấu của bản thân, của Shaytan và điều xấu mà hắn tổ hợp, và khẩn cầu Ngài hãy bao dung cho bề tôi khi bề tôi làm lỗi với chính mình hoặc gây hại đến người Muslim khác.}
بِسْمِ اللَّهِ الَّذِي لَا يَضُرُّ مَعَ اسْمِهِ شَيْءٌ فِي الأَرْضِ وَلَا فِي السَّمَاءِ وَهُوَ السَّمِيعُ العَلِيمُ
{Bis mil la hil la zdi la ya đhur ru ma ‘as mi hi shây un fil ar đhi, wa la fis sa ma i, wa hu was sa mi ‘ul ‘a lim}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, Đấng mà với danh Ngài, không có thứ gì trên trời hay dưới đất có thể gây hại, và Ngài là Đấng Hằng Nghe, Đấng Hằng Biết.} Ba lần[117]. [117] {Bất cứ ai nói điều này ba lần vào buổi sáng, và ba lần vào buổi chiều thì sẽ không có bất cứ thứ gì có thể gây hại.} Abu Dawood, (4/ 323), số (5088), và At-Tirmizdi, (5/ 465), số (3388), và Ibnu Maajah, số (3869), và Ahmad, số (446). Và xem: Sahih Ibnu Maajah, (2/332), và được Ibnu Bazz xác thực chuỗi truyền đạt là Hasan trong Tuhfat Al-Akhiyar (trang 39).
رَضِيتُ بِاللَّهِ رَبًَّا، وَبِالإِسْلَامِ دِينًا، وَبِمُحَمَّدٍ ﷺ نَبِيًّا
{Ro đhi tu bil la hi rấp ba, wa bil is la mi đi na, wa bi mu hâm mách H na bi ya}. Ý nghĩa: {Tôi đã hài lòng Allah là Thượng Đế, Islam là tôn giáo và Muhammad ﷺ là Thiên Sứ.} Đọc lặp lại ba lần[118]. [118] {Bất kỳ ai đọc nó ba lần vào buổi sáng, và ba lần vào buổi tối, thì chắc chắn Allah sẽ làm cho y hài lòng vào Ngày Phục Sinh.} Ahmad (4/337) số (18967), và An-Nasa-i trong Amal Al-Yawm wal-Laylah số (4), và Ibnu As-Sunni số (68), và Abu Dawood (4/318) số (1531), và At-Tirmizdi (5/465) số (3389), và Ibnu Bazz xác thực là Hasan trong Tuhfah Al-Akhyar (tr 39).
يَا حَيُّ يَا قَيُّومُ بِرَحْمَتِكَ أَسْتَغيثُ أَصْلِحْ لِي شَأْنِيَ كُلَّهُ وَلَا تَكِلْنِي إِلَى نَفْسِي طَرْفَةَ عَيْنٍ[119]. [119] Al-Hakim xác thực Sahih và được Azd-Zdahabi đồng tình (1/545), và xem: Sahih At-Targhib và At-Tarhib (1/273).
{Ya hây yu, ya coi yum, bi roh ma ti ka as ta ghith, os leh li sha’ ni kul lah, wa la ta kil ni i la naf si tar fa ta ‘ain}. Ý nghĩa: {Hỡi Đấng Hằng Sống, hỡi Đấng Bất Diệt, với lòng thương xót của Ngài bề tôi cầu xin phúc lành, xin Ngài hãy cải thiện mọi vụ việc của bề tôi và chớ đừng bỏ mặc bề tôi với bản thân mình dù chỉ là trong nháy mắt.}
أَصْبَحْنَا وَأَصْبَحَ المُلْكُ لِلَّهِ رَبِّ العَالَمِينَ، اللَّهُـمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ خَيْرَ هَذَا اليَوْمِ: فَتْحَهُ، وَنَصْرَهُ، وَنورَهُ، وَبَرَكَتَهُ، وَهُدَاهُ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ مَا فِيهِ وَشَرِّ مَا بَعْدَهُ [120]. [120] Abu Dawood (4/322), số 5084, và Shu'aib và 'Abdul Qadir Al-Arnaut xếp loại Hasan cho chuỗi Isnad của nó trong bản hiệu đính Zad Al-Ma'ad (2/373).
{Os bah na wa os ba hal mul ku lil la hi rấp bil ‘a la min. Ol lo hum ma in ni as a lu ka khoi ro ha zal yâum: fat ha hu, wa nos ro hu, wa nu ro hu, wa ba ro ka ta hu, wa hu đa hu, wa a ‘u zdu bi ka minh shar ri ma fi hi, wa shar ri ma ba’ đah}. Ý nghĩa: {Khi bình minh lên mọi quyền thống trị và mọi lời ca ngợi vẫn là của Allah Đấng Chúa Tể của vũ trụ. Lạy Allah, cầu xin Ngài sự rộng mở, sự giúp đỡ, ánh sáng, sự may mắn và sự hướng dẫn tốt đẹp nhất của ngày hôm nay. Và cầu xin Ngài che chở tránh khỏi mọi điều xấu, điều bất lợi của ngày hôm nay và ngày mai.}
Và khi vào buổi chiều, nói: أَمْسَيْنَا وَأَمْسَى المُلْكُ لِلَّهِ رَبِّ العَالَمِينَ، اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ خَيْرَ هَذِهِ اللَّيْلَةِ: فَتْحَهَا، وَنَصْرَهَا، وَنُورَهَا، وَبَرَكَتَهَا، وَهُدَاهَا، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ مَا فِيهَا، وَشَرِّ مَا بَعْدَهَا [121]. [121] Cùng nguồn trước đó.
{Âm sây na wa am sal mul ku lil la hi rấp bil ‘a la min. Ol lo hum ma in ni as a lu ka khoi ro ha zhi hil lây lah: fat ha ha, wa nos ro ha, wa nu ro ha, wa ba ro ka ta ha wa hu đa ha, wa a ‘u zdu bi ka minh shar ri ma fi ha, wa shar ri ma ba’ đa ha} .Ý nghĩa: {Khi hoàng hôn xuống mọi quyền thống trị và mọi lời ca ngợi vẫn là của Allah Đấng Chúa Tể của vũ trụ. Lạy Allah, cầu xin Ngài sự rộng mở, sự giúp đỡ, ánh sáng, sự may mắn và sự hướng dẫn tốt đẹp nhất của đêm hôm nay. Và cầu xin Ngài che chở tránh khỏi mọi điều xấu, điều bất lợi của đêm hôm nay và đêm mai.}
أَصْبَحْنا عَلَى فِطْرَةِ الإِسْلَامِ، وَعَلَى كَلِمَةِ الإِخْلاَصِ، وَعَلَى دِينِ نَبِيِّنَا مُحَمَّدٍ ﷺ، وَعَلَى مِلَّةِ أَبِينَا إِبْرَاهِيمَ، حَنِيفًا مُسْلِمًا وَمَا كَانَ مِنَ المُشرِكِينَ[122]. [122] Ahmad ghi (3/406) và (407), số (15360) và (15563), và Ibn As-Sunni trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah, số (34), và xem thêm: Sahih Al-Jami' (4/209).
{Os bah na ‘a la fit ro til is lam, wa ‘a la ka li ma til ikh los, wa ‘a la đi ni na bi yi na mu hâm mách - Sollollohu ‘alaihi wasallam -, wa ‘a la mil la ti a bi na ib ro him, ha ni fam mus li ma, wa ma ka na mi nal mush ri kin}. Ý nghĩa: {Khi bình minh lên bầy tôi sống trên con đường Islam, bằng sự thành tâm (trong sự tôn thờ), ở trên tôn giáo của Nabi Muhammad ﷺ của bầy tôi và trên tín ngưỡng của tổ tiên Ibrahim, Người là người Muslim thuần khiết chứ không phải là những người thờ đa thần.}
Và khi đến buổi chiều, Người ﷺ nói: أَمْسَيْنَا عَلَى فِطْرَةِ الإِسْلَامِ، وَعَلَى كَلِمَةِ الإِخْلاَصِ، وَعَلَى دِينِ نَبِيِّنَا مُحَمَّدٍ ﷺ، وَعَلَى مِلَّةِ أَبِينَا إِبْرَاهِيمَ، حَنِيفًا مُسْلِمًا وَمَا كَانَ مِنَ المُشرِكِينَ[123]. [123] Cùng nguồn trước đó.
{Âm sây na ‘a la fit ro til is lam, wa ‘a la ka li ma til ikh los, wa ‘a la đi ni na bi yi na mu hâm mách - Sollollohu ‘alaihi wasallam -, wa ‘a la mil la ti a bi na ib ro him, ha ni fam mus li ma, wa ma ka na mi nal mush ri kin}. Ý nghĩa: {Khi hoàng hôn đến bầy tôi sống trên con đường Islam, bằng sự thành tâm (trong sự tôn thờ), ở trên tôn giáo của Nabi Muhammad ﷺ của bầy tôi và trên tín ngưỡng của tổ tiên Ibrahim, Người là Muslim thuần khiết chứ không phải là những người thờ đa thần.}
سُبْحَانَ اللَّهِ وَبِحَمْدِهِ
{Sub ha nol lo hi wa bi hâm đih}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah và mọi lời ca ngợi đều thuộc về Ngài.} Một trăm lần [124]. [124] {Bất kỳ ai nói nó một trăm lần vào buổi sáng và buổi tối, không ai sẽ đến vào Ngày Phục Sinh với bất cứ điều gì tốt hơn những gì anh ta đã mang đến ngoại trừ một người đã nói giống như những gì anh ta đã nói hoặc nhiều hơn thế.} Muslim (4/2071) số (2692).
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác; mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều thuộc về Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ.} Mười lần[125], hoặc một lần khi lười biếng[126]. [125] An-Nasa-i' ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah số (24), và xem: Sahih At-Targhib wa At-Tarhib (1/272), và Tuhfah Al-Akhyar của Ibnu Bazz (tr 44), và xem ân phúc của nó trong (tr 146) Hadith số (255). [126] Abu Dawood, số (5077), Ibnu Majah, số (3798), và Ahmad, số (8719), và xem: Sahih At-Targhib wa At-Tarhib (1/270), Sahih Abu Dawood (3/957), Sahih Ibnu Majah (2/331), và Zad Al-Ma'ad (2/377).
لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ، وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ المُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác; mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều thuộc về Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ.} Một trăm lần vào buổi sáng[127]. [127] {Ai nói nó một trăm lần trong ngày thì nó sẽ bằng với việc giải phóng mười nô lệ, và một trăm việc tốt sẽ được ghi cho y, và một trăm việc xấu sẽ bị xóa bỏ khỏi y, và nó sẽ là sự bảo vệ cho y khỏi Shaytan vào ngày hôm đó cho đến khi chiều tối, và không ai sẽ đến với bất cứ điều gì tốt hơn những gì anh ta đã mang đến ngoại trừ một người đã làm nhiều hơn thế.} Al-Bukhari (4/ 95) số (3293), và Muslim (4/ 2071) số (2691).
سُبْحَانَ اللَّهِ وَبِحَمْدِهِ: عَدَدَ خَلْقِهِ، وَرِضَا نَفْسِهِ، وَزِنَةَ عَرْشِهِ، وَمِدَادَ كَلِمَاتِهِ
{Sub ha nol lo hi wa bi hâm đi hi ‘a đa đa kho cih, wa ri đho naf sih, wa zi na ta ‘ar shih, wa mi đa đa ka li ma tih}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah và mọi lời ca ngợi đều thuộc về Ngài: về muôn vạn tạo hóa của Ngài, sự tự hài lòng của Ngài, sự vĩ đại chiếc ngai vương của Ngài, và sự phong phú ngôn từ của Ngài.} Đọc lặp lại ba lần vào buổi sáng[128]. [128] Muslim (4/2090) số (2726).
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ عِلْمًا نَافِعًا، وَرِزْقًا طَيِّبًا، وَعَمَلًا مُتَقَبَّلًا
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka ‘il manh na fi ‘a, wa riz qon toi yi ba, wa ‘a ma lan mu ta cốp ba la}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho kiến thức hữu ích, bổng lộc tốt lành và việc làm được chấp nhận.} Khi bước vào buổi sáng[129]. [129] Do Ibnu As-Sunni ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah số (54), và Ibnu Majah ghi số (925), được 'Abdul Qadir và Shu'aib Al-Arnauth xác thực đường truyền Hasan trong Tahqiq Zad Al-Ma'ad (2/375) và đã được đề cập trước đó ở số (73).
أَسْتَغْفِرُ اللَّهَ وَأَتُوبُ إِلَيْهِ
{As tagh fi rul loh, wa a tu bu i lây hi}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah hãy tha tội lỗi cho bề tôi và bề tôi quay về sám hối với Ngài.} Một trăm lần mỗi ngày [130]. [130] Al-Bukhari với Al-Fath (11/101), số (6307), và Muslim (4/2075), số (2702).
{A ‘u zdu bi ka li ma til la hit tam mat, minh shar ri ma kho laq}. Ý nghĩa: {Với những lời hoàn hảo của Allah, bề tôi cầu xin che chở tránh khỏi mọi điều xấu mà Ngài đã tạo.} Ba lần vào buổi chiều [131]. [131] {Ai nói câu này ba lần khi chiều xuống thì sẽ không có gì có thể làm hại y trong đêm đó.} Do Ahmad ghi (2/290) số (7898), và An-Nasa'i ghi trong 'Amal Al-Yawm wa Al-Laylah số (590), và Ibnu As-Sunni số (68), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/187), và Sahih Ibnu Majah (2/266), và Tuhfah Al-Akhyar của Ibnu Bazz (trang 45).
اللَّهُمَّ صَلِّ وَسَلِّمْ عَلَى نَبَيِّنَا مُحَمَّدٍ
{Ol lo hum ma sol li wa sal lim 'a la na bi yi na Mu hâm mađ}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban hồng phúc và sự bình an cho Nabi Muhammad, vị Nabi của bầy tôi.} Mười lần[132]. [132] {Bất cứ ai Salawat cho Ta mười lần vào buổi sáng, và mười lần vào buổi tối, y sẽ có được sự cầu xin ân xá của Ta vào Ngày Phục Sinh.} Do At-Tabarani ghi lại với hai chuỗi truyền đạt: một trong số đó là tốt, xem: Majma' Al-Zawa'id (10/120), và Sahih At-Targhib wa At-Tarhib (1/273).
28. Các lời tụng niệm khi ngủ
(Chụm hai lòng bàn tay lại với nhau, rồi phun vào đó sau khi đọc: {Qul hu wol lo hu a hađ. Ol lo hus so mađ. Lâm da liđ wa lâm du lađ. Wa lâm da kul la hu ku fu wan a hađ.} (chương 112 - Al-Ikhlas, câu 1-4).
{Qul a u zdu bi rab bil fa laq. Wa min shar ri ma kho laq. Wa min shar ri gho sin qin i zda wa qab. Wa min shar rin naf fa tha ti fil u qođ. Wa min shar ri ha si đin i zda ha sađ.} [chương 113 - Al-Falaq: 1 - 5].
{Qul a u zdu bi rab bin nas. Ma li kin nas. I la hin nas. Min shar ril was wa sil khon nas. Al la zdi du was wi su fi su đu rin nas. Mi nal jin na ti wan nas.} [chương 114 - An-Nas, câu 1-6]
Sau đó, dùng hai bàn tay lau vuốt lên những phần cơ thể có thể chạm tới, bắt đầu từ đầu, mặt và phần phía trước của cơ thể.} (Người làm như vậy ba lần)[133]. [133] Al-Bukhari với Al-Fath (9/62), số (5017), và Muslim, số (2192).
{Ol lo hu la i la ha il la hu wal hây dul qoi dum, la ta' khu zdu hu si na tu wa la nâum, la hu fis sa ma wa ti wa ma fil ardh. Man zdal la zdi dash fa u in đa hu il la bi izd nih, da' la mu ma bây na ây đi him wa ma khol fa hum, wa là du hi tu na bi shây im min il mi hi il la bi ma sha', wa si a kur si du hus sa ma wa ti wal ardh, wa la da u đu hu hif zhu hu ma, wa hu wal a li dul a zhim.} (chương 2 – Al-Baqarah: 255)[134]. [134] {Bất cứ ai đọc nó khi đã nằm xuống giường thì y sẽ được sự bảo vệ của Allah và không tên Shaytan nào có thể đến gần y cho đến sáng.} Al-Bukhari cùng với Al-Fath (4/487) số (2311).
{A ma nar so su lu bi ma un zi la i lây hi mir rab bi hi wal mu' mi nun. Kul lun a ma na bil la hi wa ma la i ka ti hi wa ku tu bi hi wa ru su li hi. La nu far fi qu bây na a ha đim mir ru su lih. Wa qo lu sa mi' na wa a to' na, ghuf ro na ka. Rab ba na wa i lây kal ma sir. La du kal li ful lo hu naf san il la wus a ha. La ha ma ka sa bat wa a lây ha mak ta sa bat. Rab ba na la tu a khizd na in na si na âu akh to' na. Rab ba wa la tah mil a lây na is ran ka ma ha mal ta hu a lal la zdi na min qab li na. Rab ba na wa la tu hâm mil na ma la to qo ta la na bih, wa' fu an na wagh fir la na war hâm na, an ta mâu la na fan sur na a lal qâu mil ka fi rin.} (chương 2 – Al-Baqarah: 285-286)[135]. [135] {Bất cứ ai đọc hai câu Kinh đó vào ban đêm, điều đó là đủ cho y.} Al-Bukhari cùng với Al-Fath (9/94), số (4008), và Muslim (1/554), số (807).
بِاسْمِكَ[136] رَبِّي وَضَعْتُ جَنْبِي، وَبِكَ أَرْفَعُهُ، فَإِنْ أَمْسَكْتَ نَفْسِي فَارْحَمْهَا، وَإِنْ أَرْسَلْتَهَا فَاحْفَظْهَا، بِمَا تَحْفَظُ بِهِ عِبَادَكَ الصَّالِحِينَ[137]. [136] {Khi ai đó trong các ngươi rời khỏi giường của mình rồi quay lại đó, y hãy phủi nó bằng vạt áo của mình ba lần, và hãy xướng danh Allah; bởi y không biết điều gì đã thế chỗ y trên đó sau khi y rời đi, và khi nằm xuống, y hãy nói:..} Hadith, [Và ý nghĩa của 'bằng vạt áo của mình': là phần mép vải giáp với viền của nó]. Trích cuốn An-Nihayah fi Gharib Al-Hadith wa Al-Athar (mục Sanf). [137] Al-Bukhari với Al-Fath (11/126), số (6320), và Muslim (4/2084), số (2714).
{Bis mi ka rấp bi wa đho’ tu jâm bi, wa bi ka ar fa ‘u hu, fa in âm sak ta naf si far hâm ha, wa in ar sal ta ha fah fozh ha bi ma tah fa zhu bi hi ‘i ba da kos so li hin}. Ý nghĩa: {Nhân danh Thượng Đế của bề tôi, bề tôi đặt mình nằm và thức dậy. Nếu Ngài giữ hồn bề tôi lại thì xin hãy thương xót nó, và nếu Ngài gửi nó trở lại thì xin hãy bảo vệ nó với sự bảo vệ mà Ngài đã bảo vệ những người bề tôi ngoan đạo của Ngài.}
اللَّهُمَّ إِنَّكَ خَلَقْتَ نَفْسِي وَأَنْتَ تَوَفَّاهَا، لَكَ مَمَاتُهَا وَمَحْياهَا، إِنْ أَحْيَيْتَهَا فَاحْفَظْهَا، وَإِنْ أَمَتَّهَا فَاغْفِرْ لَهَا، اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ العَافِيَةَ[138]. [138] Do Muslim ghi số (4/2083), (2712) và Ahmad ghi số (2/79), (5502).
{Ol lo hum ma in na ka kho lắc ta naf si, wa anh ta ta waf fa ha, la ka ma ma tu ha, wa mah ya ha, in ah yây ta ha fah fozh ha, wa in a mat ta ha fagh la ha, ol lo hum ma as a lu kal ‘a fi yah}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Đấng tạo ra bề tôi và cũng là Đấng làm cho nó chết đi, Ngài là Đấng nắm trong tay cái chết và sự sống của bề tôi. Vì vậy, khi Ngài cho bề tôi sống, xin hãy che chở bảo vệ bề tôi tránh khỏi mọi điều xấu, còn khi Ngài cho bề tôi chết thì xin hãy tha thứ cho bề tôi. Bề tôi cầu xin Ngài sự an lành .}
اللَّهُمَّ قِنِي[139] عَذَابَكَ يَوْمَ تَبْعَثُ عِبَادَكَ[140]. [139] {Bất cứ khi nào Nabi ﷺ muốn ngủ, Người ﷺ thường đặt tay phải dưới má rồi nói: ...} (Hadith). [140] Abu Dawood với lời văn của ông (4/311) số 5045, và At-Tirmizdi số 3398, và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/143), và Sahih Abu Dawood (3/240).
{Ol lo hum ma ci ni ‘a zda ba ka dâu ma tab ‘a thu ‘i ba đak}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy che chở bảo vệ bề tôi tránh khỏi hinh phạt của Ngài vào Ngày mà Ngài phục sinh bầy tôi của Ngài.}
بِاسْمِكَ اللَّهُمَّ أَمُوتُ وَأَحْيَا[141]. [141] Al-Bukhari với Al-Fath (11/113), số (6324), và Muslim (4/2083), số (2711).
{Bis mi kol lo hum ma a mu tu wa ah ya}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, với danh Ngài bề tôi chết và bề tôi sống.}
سُبْحَانَ اللَّهِ
{Sub ha nol loh}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah} (33 lần), وَالحَمْدُ لِلَّهِ
{Wal hâm đu lil lah}. Ý nghĩa: {Mọi lời ca ngợi thuộc về Allah}. (33 lần), وَاللَّهُ أَكْبَرُ
{Wol lo hu ak bar}. Ý nghĩa: {Allah vĩ đại nhất} (ba mươi bốn)[142]. [142] {Ai nói (đủ 100 lần) như thế này khi lên giường ngủ thì sẽ tốt cho người đó hơn là có một người phục vụ.} Al-Bukhari cùng với Al-Fath, (7/71) số (3705), và Muslim (4/2091) số (2726).
اللَّهُمَّ رَبَّ السَّمَوَاتِ السَّبْعِ وَرَبَّ الأَرْضِ، وَرَبَّ العَرْشِ العَظِيمِ، رَبَّنَا وَرَبَّ كُلِّ شَيْءٍ، فَالِقَ الحَبِّ وَالنَّوَى، وَمُنْزِلَ التَّوْرَاةِ وَالإِنْجِيلِ، وَالفُرْقَانِ، أَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ كُلِّ شَيْءٍ أَنْتَ آخِذٌ بِنَاصِيَتِهِ، اللَّهُمَّ أَنْتَ الأَوَّلُ فَلَيْسَ قَبْلَكَ شَيْءٌ، وَأَنْتَ الآخِرُ فَلَيسَ بَعْدَكَ شَيْءٌ، وَأَنْتَ الظَّاهِرُ فَلَيْسَ فَوْقَكَ شَيْءٌ، وَأَنْتَ البَاطِنُ فَلَيْسَ دُونَكَ شَيْءٌ، اقْضِ عَنَّا الدَّيْنَ وَأَغْنِنَا مِنَ الفَقْرِ[143]. [143] Muslim (4/2084) số (2713).
{Ol lo hum ma rấp bas sa ma tis sấp ‘i, wa rấp bal ar đhi, wa rấp bal ‘ar shil ‘a zhim, rấp ba na wa rấp ba kul li shây, fa li col hấp bi wanh na wa, wa mun zi lat tâu roh, wal in jil, wal fur qon, a ‘u zdu bi ka minh shar ri kul li shây anh ta a khi zdun bi na si ya tih. Ol lo hum ma anh tal âu wal fa lây sa cốp la ka shây, wa anh tal a khir fa lây sa ba’ đa ka shây, wa anh tazh zho hi ru fa lây sa fâu co ka shây, wa anh tal ba ti lun fa lây sa đu na ka shây, íc đhi ‘anh nađ đây na, wa ứ ni na mi nal fắc ri}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Chủ Nhân của các tầng trời và đất, là Chủ Nhân của chiếc ngai vương vĩ đại, là Chủ Nhân của bầy tôi và của tất cả, Ngài đã tạo hóa hạt giống và cho chúng đâm chồi, Ngài đã thiên khải Tâurah (Kinh Cựu Ước), Injil (Kinh Tân Ước) và Furqan (Kinh Qur’an). Bề tôi van cầu Ngài che chở mọi điều xấu bởi tất cả đều bị Ngài cai quản. Lạy Allah, Ngài là Đấng Đầu Tiên không có gì trước Ngài, Ngài là Đấng Cuối Cùng không có gì sau Ngài, Ngài là Đấng Cao Nhất không có gì bên trên Ngài, Ngài là Đấng Trung Tâm không có gì bên trong Ngài, xin hãy giúp bề tôi trả nợ, xin hãy cho bề tôi thoát nghèo và trở nên giàu có.}
الحَمْدُ لِلَّهِ الَّذِي أَطْعَمَنَا وَسَقَانَا، وَكَفَانَا، وَآوَانَا، فَكَمْ مِمَّنْ لَا كَافِيَ لَهُ وَلَا مُؤْوِيَ[144]. [144] Muslim (4/2085) số (2715).
{Al hâm đu lil la hil la zdi ot ‘a ma na, wa sa co na, wa ka fa na, wa a wa na, fa kâm min manh la ka fi ya la hu, wa la mu’ wi}. Ý nghĩa: {Xin tạ ơn Allah đã cho bề tôi thức ăn, thức uống và chỗ nghỉ ngơi trong khi có biết bao người không đủ ăn cũng không có nơi ở.}
اللَّهُمَّ عَالِمَ الغَيْبِ وَالشَّهَادَةِ فَاطِرَ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ، رَبَّ كُلِّ شَيْءٍ وَمَلِيكَهُ، أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ، أَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّ نَفْسِي، وَمِنْ شَرِّ الشَّيْطانِ وَشِرْكِهِ، وَأَنْ أَقْتَرِفَ عَلَى نَفْسِي سُوءًا، أَوْ أَجُرَّهُ إِلَى مُسْلِمٍ[145]. [145] Abu Dawood (4/317), số 5067, và At-Tirmizdi, số 3629, và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/142).
{Ol lo hum ma ‘a li mal ghoi bi wash sha ha đah, fa ti ros sa ma wa ti wal ardh, rấp ba kul li shây in wa ma li kah, ash ha đu al la i la ha il la anh ta, a ‘u zdu bi ka minh shar ri naf si, wa minh shar rish shây to ni wa shir kih, wa an ắc ta ri fa ‘a la naf si su anh, âu a jur ro hu i la mus lim.}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Đấng am tường mọi việc vô hình và hữu hình, Đấng tạo dựng lên trời đất, Thượng Đế của tất cả vạn vật và quyền cai quản thuộc về Ngài, bề tôi xin tuyên thệ không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài, bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh mọi điều xấu của bản thân, khỏi điều xấu của Shaytan và sự lôi kéo của hắn vào Shirk, và cầu xin che chở bề tôi tránh khỏi gây điều xấu cho bản thân hoặc lôi điều xấu đó đến một người Muslim.}
{Đọc chương 32 - As-Sajdah và chương 67 - Al-Mulk}[146]. [146] At-Tirmizdi, số (3404), và An-Nasa-i trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah, số (707), và xem: Sahih Al-Jami' (4/255).
اللَّهُمَّ[147] أَسْلَمْتُ نَفْسِي إِلَيْكَ، وَفَوَّضْتُ أَمْرِي إِلَيْكَ، وَوَجَّهْتُ وَجْهِي إِلَيْكَ، وَأَلْجَأْتُ ظَهْرِي إِلَيْكَ، رَغْبَةً وَرَهْبَةً إِلَيْكَ، لَا مَلْجَأَ وَلَا مَنْجَا مِنْكَ إِلَّا إِلَيْكَ، آمَنْتُ بِكِتَابِكَ الَّذِي أَنْزَلْتَ، وَبِنَبِيِّكَ الَّذِي أَرْسَلْتَ[148]. [147] {Khi chuẩn bị ngủ, hãy thực hiện Wudu giống như để hành lễ Salah, sau đó hãy nằm nghiêng sang bên phải, rồi nói: ...} (Hadith). [148] Người ﷺ nói với người đã nói điều đó: {Nếu ngươi chết, ngươi sẽ chết trên Fit-rah (bản chất Islam thuần khiết.} Al-Bukhari cùng với Al-Fath (11/113), số (6313), và Muslim (4/2081), số (2710).
{Ol lo hum ma as lâm tu naf si i lây ka, wa fâu wadh tu âm ri i lây ka, wa waj jah tu waj hi i lây ka, wa al ja’ tu zhoh ri i lây ka, rứ ba tanh wa roh ba tanh i lây ka, la mal ja a wa la manh ja minh ka il la i lây ka, a manh tu bi ki ta bi kal la zdi anh zal ta, wa bi na bi yi kal la zdi ar sal ta}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi xin hướng cơ thể bề tôi đến Ngài, xin ủy thác mọi việc cho Ngài, hướng mặt bề tôi đến Ngài, xin nương tựa nơi Ngài bằng niềm hy vọng và nỗi kính sợ, không có nơi nương tựa nào ngoại trừ nơi Ngài. Lạy Allah, bề tôi đã tin Kinh Sách mà Ngài đã ban xuống và tin vị Nabi mà Ngài đã cử đến.}
29. Du'a khi trở mình trong đêm.
لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ الوَاحِدُ القَهّارُ، رَبُّ السَّمَوَاتِ وَالأَرْضِ وَمَا بَيْنَهُمَا العَزيزُ الغَفَّارُ[149] [149] Đọc câu đó khi trở mình từ bên này sang bên kia vào ban đêm. Al-Hakim ghi và đã xác thực Sahih, được Az-Zahabi đồng tình (1/540), và An-Nasa-i' ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah số (202), và Ibnu As-Sunni ghi số (757), và xem: Sahih Al-Jami' (4/213).
{La i la ha il lol lo hul wa hi đul coh har, rấp bus sa ma wa ti wal ardh, wa ma bây na hu mal ‘a zi zul ghar far}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng Uy Quyền, Ngài là Chủ Nhân của trời đất và vạn vật, Ngài là Đấng Toàn Năng, Đấng Hằng Tha Thứ.}
30. Du'a khi giật mình thức giấc trong đêm, hoặc ai gặp phải điều sợ hãi.
أَعُوذُ بِكَلِمَاتِ اللَّهِ التَّامَّاتِ مِنْ غَضَبِهِ وَعِقَابِهِ، وَشَرِّ عِبَادِهِ، وَمِنْ هَمَزَاتِ الشَّياطِينِ وَأَنْ يَحْضُرُونِ[150]. [150] Abu Dawood (4/12), số 3893, và At-Tirmizdi, số 3528, và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/171).
{A ‘u zdu bi ka li ma til la hit tam ma ti minh gho đho bi hi, wa ‘i co bi hi, wa shar ri ‘i ba đi hi, wa minh ha ma za tish sha ya tin, wa anh yah đhu run}. Ý nghĩa: {Với những Lời hoàn hảo của Allah, bề tôi tìm sự che chở khỏi cơn thịnh nộ của Ngài và hình phạt của Ngài, khỏi mọi điều xấu từ đám bầy tôi của Ngài, khỏi mọi lời xúi giục của Shaytan và khỏi việc chúng đến quấy nhiễu.}
31. Những việc cần làm đối với người thấy giấc mơ hoặc ác mộng
(Phun nhẹ (nước bọt) sang bên trái) (ba lần)[151]. [151] Muslim (4/1772) số (2261).
(Cầu xin Allah che chở khỏi Shaytan và khỏi sự xấu xa những gì đã thấy) (ba lần)[152]. [152] Muslim (4/1772) (1773) số (2261) và (2262).
A u zdu bil la hi mi nash shây to nir ro jim
{Không kể lại những gì đã thấy cho bất cứ ai.}[153] [153] Muslim (4/1772) số (2261) và (2263).
(Đổi sang nằm nghiêng về phía bên kia, khác với phía đang nằm)[154]. [154] Muslim (4/1773), số (2261).
{Đứng lên hành lễ Salah nếu muốn điều đó}[155]. [155] Muslim (4/1773), số (2263).
32. Du'a Qunut cho lễ nguyện Salah Witr
اللَّهُمَّ اهْدِنِي فِيمَنْ هَدَيْتَ، وَعَافِنِي فِيمَنْ عَافَيْتَ، وَتَوَلَّنِي فِيمَنْ تَوَلَّيْتَ، وَبَارِكْ لِي فِيمَا أَعْطَيْتَ، وَقِنِي شَرَّ مَا قَضَيْتَ؛ فَإِنَّكَ تَقْضِي وَلَا يُقْضَى عَلَيْكَ، إِنَّهُ لَا يَذِلُّ مَنْ وَالَيْتَ، [وَلاَ يَعِزُّ مَنْ عَادَيْتَ]، تَبارَكْتَ رَبَّنا وَتَعَالَيْتَ[156]. [156] Do các tác giả của bốn bộ Sunan, Ahmad, Ad-Darimi và Al-Baihaqi ghi: Abu Dawood ghi số (1425), At-Tirmizdi ghi số (464), An-Nasa-i' ghi số (1744), Ibnu Majah ghi số (1178), Ahmad ghi số (1718), Ad-Darimi ghi số (1592), Al-Hakim ghi số (3/172), Al-Baihaqi ghi số (2/209), còn phần trong ngoặc vuông là của Al-Baihaqi, và xem: Sahih At-Tirmizdi (1/144), Sahih Ibnu Majah (1/194), và Irwa' Al-Ghalil của Al-Albani (2/172).
{Ol lo hum mah đi ni fi manh ha đây ta, wa ‘a fi ni fi manh ‘a fây ta, wa ta wal la ni fi manh ta wal lây ta, wa ba rik li fi ma ‘a toi ta, wa ci ni shar ro ma co đhoi ta, fa in na ka tắc đhi wa la duốt đho ‘a lây ka, in na hu la ya zdil lu manh wa lây ta, wa la ya ‘iz zu manh ‘a đây ta, ta ba rak ta rấp ba na wa ta ‘a lây ta}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin Ngài hướng dẫn bề tôi cùng với những người mà Ngài đã hướng dẫn; xin Ngài ban sự bình an và khỏe mạnh cho bề tôi cùng với những mà Ngài đã ban cho sự bình an và khoẻ mạnh; xin Ngài che chở, bảo hộ và phù trợ cho bề tôi cùng với những người mà Ngài đã che chở, bảo hộ và phù trợ; xin Ngài ban phúc lành cho bề tôi đối với mọi thứ mà Ngài đã ban cho bề tôi, và xin Ngài bảo vệ bề tôi tránh mọi điều xấu đối với những gì mà Ngài đã định đoạt. Quả thật, chỉ Ngài là Đấng phán quyết không ai có thể phán quyết đối với Ngài. Quả thật, ai được Ngài bảo vệ sẽ không bị hạ nhục,và [người mà Ngài là kẻ thù sẽ không bao giờ được vinh quang]. Phúc lành thay Ngài, ôi Thượng Đế của bầy tôi, Ngài là Đấng Tối Cao.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِرِضَاكَ مِنْ سَخَطِكَ، وَبِمُعَافَاتِكَ مِنْ عُقُوبَتِكَ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْكَ، لَا أُحْصِي ثَنَاءً عَلَيْكَ، أَنْتَ كَمَا أَثْنَيْتَ عَلَى نَفْسِكَ[157] [157] Do các tác giả của bốn bộ Sunan và Ahmad ghi: Abu Dawood ghi số (1427), At-Tirmizdi ghi số (3566), An-Nasa-i' ghi số (1746), Ibnu Maajah ghi số (1179), và Ahmad ghi số (751). Xem: Sahih At-Tirmizdi (3/180), và Sahih Ibnu Maajah (1/194), và Al-Irwa', (2/175).
{Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ri đho ka minh sa kho tik, wa bi mu ‘a fa ti ka min ‘u cu ba tik, wa a ‘u zdu bi ka minh ka, la uh si tha na anh ‘a lây ka, anh ta ka ma ath nây ta ‘a la naf sik}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin sự hài lòng của Ngài, tránh cơn thinh nộ của Ngài; cầu xin sự thứ của Ngài, tránh sự trừng phạt của Ngài; và con cầu xin sự che chở nơi chính Ngài khỏi (hậu quả từ) Ngài. Bề tôi không thể nào kể hết hay ca ngợi Ngài xứng đáng như Ngài đáng được ca ngợi. Ngài đúng như chính Ngài đã tự ca ngợi bản thân Ngài.}
اللَّهُمَّ إِيَّاكَ نعْبُدُ، وَلَكَ نُصَلِّي وَنَسْجُدُ، وَإِلَيْكَ نَسْعَى وَنَحْفِدُ، نَرْجُو رَحْمَتَكَ، وَنَخْشَى عَذَابَكَ، إِنَّ عَذَابَكَ بِالكَافِرِينَ مُلْحِقٌ، اللَّهُمَّ إِنَّا نَسْتَعِينُكَ، وَنَسْتَغْفِرُكَ، وَنُثْنِي عَلَيْكَ الخَيْرَ، وَلَا نَكْفُرُكَ، وَنُؤْمِنُ بِكَ، وَنَخْضَعُ لَكَ، وَنَخْلَعُ مَنْ يَكْفرُكَ[158]. [158] Al-Baihaqi ghi lại trong Al-Sunan Al-Kubra, và xác thực Sahih Isnad của nó (2/211), và Sheikh Al-Albani nói trong Irwa' Al-Ghalil: “Và đây là Isnad Sahih” (2/170). Và nó là Mauquf ở Umar.
{Ol lo hum ma i ya ka na’ buđ, wa la ka nu sol li wa nas juđ, wa i lây ka nas ‘a wa nah fiđ, nar ju roh ma ta ka wa nash sha ‘a zda bak. In na ‘a zda ba ka bil ka fi ri na mul hắc. Ol lo hum ma in na nas ta ‘i nu ka wa nas tagh fi ruk, wa nuth ni ‘a lây kal khoi ro, wa la nak fu ru ka, wa nu mi nu bi ka wa nakh đho ‘u la ka, wa nakh la ‘u manh yak fu ruk}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, duy chỉ Ngài bầy tôi thờ phụng, duy chỉ Ngài bầy tôi lễ nguyện Salah và cúi đầu quỳ lạy. Hướng về Ngài bầy tôi nỗ lực và vội vã (trong việc vâng phục). Bầy tôi hy vọng nơi lòng thương xót của Ngài và sợ hãi sự trừng phạt của Ngài. Quả thật, sự trừng phạt của Ngài chắc chắn sẽ giáng xuống những kẻ vô đức tin. Lạy Allah! Quả thật, bầy tôi cầu xin sự trợ giúp từ Ngài, cầu xin Ngài tha thứ cho bầy tôi, và chỉ ca ngợi Ngài bằng mọi điều tốt đẹp. Bầy tôi không phủ nhận Ngài; bầy tôi có đức tin nơi Ngài, quy phục Ngài và từ bỏ những ai phủ nhận Ngài.}
33. Tụng niệm sau Salam của lễ nguyện Salah Witr.
سُبْحَانَ المَلِكِ القُدُّوسِ
{Sub ha nal ma li kil cuđ đus}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Đấng Chúa Tể, Đấng Linh Thiêng} ba lần Và lần thứ ba, đọc lớn tiếng và kéo dài giọng, nói: رَبِّ المَلَائِكَةِ وَالرُّوحِ[159]. [159] An-Nasa-i (3/244), số (1734), và Ad-Daraqutni (2/31), và những người khác, và phần trong ngoặc vuông là phần thêm của Ad-Daraqutni (2/31), số (2), và chuỗi truyền đạt của nó Sahih. Xem: Zad Al-Ma'ad, bản Tahqiq của Shu'aib Al-Arna-ut và 'Abdul Qadir Al-Arna-ut (1/337).
{Rab bil ma la i ka ti war ruh}. Ý nghĩa: {Thượng Đế của các Thiên Thần và Ruh (Jibril).}
34. Du'a khi lo lắng và đau buồn
اللَّهُمَّ إِنِّي عَبْدُكَ، ابْنُ عَبْدِكَ، ابْنُ أَمَتِكَ، نَاصِيَتِي بِيَدِكَ، مَاضٍ فِيَّ حُكْمُكَ، عَدْلٌ فِيَّ قَضَاؤُكَ، أَسْأَلُكَ بِكُلِّ اسْمٍ هُوَ لَكَ، سَمَّيْتَ بِهِ نَفْسَكَ، أَوْ أَنْزَلْتَهُ فِي كِتَابِكَ، أَوْ عَلَّمْتَهُ أَحَدًا مِنْ خَلْقِكَ، أَوِ اسْتَأْثَرْتَ بِهِ فِي عِلْمِ الغَيْبِ عِنْدَكَ، أَنْ تَجْعَلَ القُرْآنَ رَبِيعَ قَلْبِي، وَنُورَ صَدْرِي، وَجَلَاءَ حُزْنِي، وَذَهَابَ هَمِّي[160]." [160] Ahmad ghi số (1/391), số (3712), được Al-Albani xác thực Sahih trong bộ chuỗi Hadith Sahih số (1/337).
{Ol lo hum ma in ni ‘ắp đu ka, ib nu ‘ắp đi ka, ib nu a ma ti ka, na si ya ti bi ya đi ka, ma đhin fi ya huk mu ka, ‘ađ lun fi ya co đho u ka, as a lu ka bi kul lis minh hu wa la ka, sâm mây ta bi hi naf sa ka, âu anh zal ta hu fi ki ta bi ka, âu ‘al lâm ta hu a ha đanh minh khol ci ka, a wis ta’ thar ta bi hi fi ‘il mil ghoi bi ‘in đa ka, anh taj ‘a lal cur a na ro bi ‘a col bi, wa nu ro sođ ri, wa ji la a huz ni, wa zđa ha ba hâm mi}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi là nô lệ của Ngài, là con của nô lệ nam và nô lệ nữ của Ngài, mọi hành động của bề tôi đều trong tay Ngài, mọi qui luật của Ngài đều có hiệu lực trên bề tôi, mọi định mệnh mà Ngài đã an bài đều công bằng cho bề tôi đều. Cầu xin Ngài bằng tất cả các danh xưng mà Ngài tự xưng, hoặc được Ngài mặc khải trong các Kinh Sách, hoặc được Ngài dạy cho ai đó trong các tạo hoá của Ngài, hoặc với các danh xưng mà Ngài giữ kín cho riêng Ngài, xin hãy biến Qur’an thành niềm vui cho con tim của bề tôi, thành ánh sáng trong lồng ngực của bề tôi, cầu xin Ngài hãy giải tỏa sự ưu sầu và xua tan đi nỗi âu lo của bề tôi.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنَ الهَمِّ وَالحَزَنِ، وَالعَجْزِ وَالكَسَلِ، وَالبُخْلِ وَالجُبْنِ، وَضَلَعِ الدَّيْنِ وَغَلَبَةِ الرِّجَالِ[161] [161] Al-Bukhari (7/158) số (2893), Thiên Sứ ﷺ thường đọc nhiều lời cầu xin này. Xem: Al-Bukhari với Al-Fath (11/173), và sẽ được đề cập (trang 89) số (137).
{Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka mi nal hâm mi, wal ha zan, wal ‘aj zi wal ka sal, wal bukh li, wal jub ni, wa đho la ‘id đây ni, wa gho la ba tir ri jal}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi mọi lo âu, buồn rầu, bất lực, lười biếng, keo kiệt, hèn nhát, nợ nần và bị người khác đàn áp.}
35. Du'a khi gặp tai họa và chuyện đau buồn.
لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ العَظِيمُ الحَلِيمُ، لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ رَبُّ العَرْشِ العَظِيمِ، لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ رَبُّ السَّمَوَاتِ وَرَبُّ الأَرْضِ وَرَبُّ العَرْشِ الكَرِيمِ[162]. [162] Al-Bukhari (7/154) số (6345), và Muslim (4/2092) số (2730).
rấp rul ‘ar shil ‘a zhim, la i la ha il lol lo hu rấp bus sa ma wa ti, wa rab bul ar đhi, wa rab bul ‘ar shil ka rim}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, Đấng Vĩ Đại, Đấng hằng chịu đựng; không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, Chủ Nhân của chiếc ngai vương vĩ đại; không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, Chủ Nhân của trời đất và Chủ Nhân của chiếc ngai vương cao quí.}
اللَّهُمَّ رَحْمَتَكَ أَرْجُو، فَلَا تَكِلْنِي إِلَى نَفْسِي طَرْفَةَ عَيْنٍ، وَأَصْلِحْ لِي شَأْنِي كُلَّهُ، لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ[163]. [163] Abu Dawood (4/324) số (5090), và Ahmad (5/42) số (20430), và Al-Albani xếp loại là Hasan trong Sahih Abu Dawood (3/959).
{Ol lo hum ma bi roh ma ti ka ar ju, fa la ta kil ni i la naf si tor fa ta ‘ain, wa os leh li sha’ ni kul lah, la i la ha il la anh ta}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi hi vọng được Ngài thương xót, xin đừng bỏ mặc bề tôi dù chỉ trong nháy mắt và xin hãy cải thiện mọi vụ việc của bề tôi. Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Ngài.}
لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ سُبْحَانَكَ إِنِّي كُنْتُ مِنَ الظَّالِمِينَ[164]." [164] At-Tirmizdi (5/529) số (3505), và Al-Hakim ghi và xác thực là Sahih, được Az-Zahabi đồng tình (1/505), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/168).
{La i la ha il la anh ta sub ha na ka, in ni kun tu mi nozh zho li min}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Ngài, thật Vinh quang thay Ngài, bề tôi trở về sám hối cùng Ngài, chính bề tôi là kẻ lầm lạc.}
اللَّهُ اللَّهُ رَبِّي لَا أُشْرِكُ بِهِ شَيْئًا[165] [165] Do Abu Dawood ghi (2/87) số (1525), và Ibnu Majah ghi số (3882), và xem: Sahih Ibn Majah (2/335).
{Ol loh, Ol loh rab bi la ush ri ku bi hi shây a}. Ý nghĩa: {Allah, Allah, Thượng Đế của bề tôi và bề tôi sẽ không bao giờ tổ hợp Ngài với bất cứ thứ gì.}
36. Du'a khi đối mặt với kẻ thù và người có quyền lực.
اللَّهُمَّ إِنَّا نَجْعَلُكَ فِي نُحُورِهِم، وَنَعُوذُ بِكَ مِنْ شُرُورِهِمْ[166]. [166] Abu Dawood (2/89), số 1537, và được Al-Hakim xác thực Sahih và Azd-Zdahabi đồng thuận (2/142).
{Ol lo hum ma in na naj ‘a lu ka fi nu hu ri him, wa na ‘u zdu bi ka min shu ru ri him}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin Ngài ngăn chặn kế hoạch của họ và hãy che chở bầy tôi tránh khỏi mọi điều xấu từ họ.}
اللَّهُمَّ أَنْتَ عَضُدِي، وَأَنْتَ نَصِيرِي، بِكَ أَحُولُ وَبِكَ أَصُولُ، وَبِكَ أُقاتِلُ[167]. [167] Abu Dawood (3/42) số (2632), và At-Tirmizdi (5/572) số (3584), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/183).
{Ol lo hum ma anh ta ‘a đhu đi, wa anh ta na si ri, bi ka a hu lu, wa bi ka a su lu, wa bi ka u co ti lu}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là chỗ dựa vững chắc của bề tôi, Ngài là Đấng trợ giúp, phù hộ và ban chiến thắng cho bề tôi, nhờ Ngài mà bề tôi có sức mạnh chuyển động và xoay chuyển mọi việc, nhờ Ngài mà bề tôi tiến tới (xông lên) và nhờ Ngài mà bề tôi chiến đấu.}
حَسْبُنا اللَّهُ وَنِعْمَ الوَكِيلُ[168]. [168] Al-Bukhari (5/172), số (4563).
{Has bu nol lo hu wa ni'a mal wa kil}. Ý nghĩa: {Allah là Đấng đủ cho chúng ta, và Ngài là Đấng Bảo Hộ (Đấng được phó thác) tốt nhất.}
37. Du'a khi sợ sự bất công của lãnh đạo
اللَّهُمَّ ربَّ السَّمَوَاتِ السَّبْعِ، وَرَبَّ العَرْشِ العَظِيمِ، كُنْ لِي جَارًا مِنْ فُلَانِ بْنِ فُلَانٍ، وَأَحْزَابِهِ مِنْ خَلَائِقِكَ، أَنْ يَفْرُطَ عَلَيَّ أَحَدٌ مِنْهُمْ أَوْ يَطْغَى، عَزَّ جَارُكَ، وَجَلَّ ثَنَاؤُكَ، وَلَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ[169]. [169] Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad số (707), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad số (545).
{Ol lo hum ma rab bas sa ma wa tis sab ‘i, wa rab bal ‘ar shil ‘a zhim, kun li ja ran min (tên người đàn áp) wa ah za bi hi minh kho la i ci ka, anh yaf ru to ‘a lây ya a ha đun minh hum âu yot gho, ‘az za ja ru ka, wa jal la tha na u ka, wa la i la ha il la anh ta}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Chủ Nhân của bảy tầng trời, là Chủ Nhân của chiếc ngai vương vĩ đại, cầu xin Ngài hãy giúp đỡ bề tôi chống lại (tên người) và bè phái của y vì chúng là những tạo vật của Ngài, xin hãy che chở bề tôi tránh khỏi sự hãm hại hoặc sự hung tợn của chúng. Hùng mạnh thay khi đã được Ngài giúp đỡ, vĩ đại thay sự ca ngợi dành cho Ngài và không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Ngài.}
اللَّهُ أَكْبَرُ، اللَّهُ أَعَزُّ مِنْ خَلْقِهِ جَمِيعًا، اللَّهُ أَعَزُّ مِمَّا أَخَافُ وَأَحْذَرُ، أَعُوذُ بِاللَّهِ الَّذِي لَا إِلَهَ إِلَّا هُوَ، المُمْسِكِ السَّمَوَاتِ السَّبْعِ أَنْ يَقَعْنَ عَلَى الأَرْضِ إِلَّا بِإِذْنِهِ، مِنْ شَرِّ عَبْدِكَ فُلَانٍ، وَجُنُودِهِ وَأَتْبَاعِهِ وَأَشْيَاعِهِ، مِنَ الجِنِّ وَالإِنْسِ، اللَّهُمَّ كُنْ لِي جَارًا مِنْ شَرِّهِمْ، جَلَّ ثَنَاؤُكَ وَعَزَّ جَارُكَ، وَتَبَارَكَ اسْمُكَ، وَلَا إِلَهَ غَيْرُكَ
{Ol lo hu ak bar, ol lo hu a ‘az zu min khol qi hi ja mi ‘a, ol lo hu a ‘az zu mim ma a kho fu wa ah zdar, a ‘u zdu bil la hil la zdi la i la ha il la hu, al mum si kis sa ma wa tis sab ‘i anh ya co’ na ‘a lal ar đhi il la bi izd nih, minh shar ri ‘ab đi ka (nêu tên người) wa ju nu đi hi wa at ba ‘i hi wa ash ya ‘i hi mi nal jin ni wal in si. Ol lo hum ma kun li ja ron minh shar ri him, jal la tha na uk, wa ‘az za ja ruk, wa ta ba ro kas muk, wa la i la ha ghoi ruk}. Ý nghĩa: {Allah vĩ đại nhất, Allah là Đấng hùng mạnh nhất trên mọi tạo vật mà Ngài đã tạo, Allah là Đấng hùng mạnh nhất trong những gì bề tôi khiếp sợ và thận trọng. Allah là Đấng mà không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Ngài, Ngài là Đấng nắm giữ bảy tầng trời khỏi sập xuống đất cho đến khi Ngài muốn, cầu xin Ngài che chở tránh khỏi mọi điều xấu, ác độc của (tên người) kể cả quân lính và phe đảng của y từ loài Jinn và loài người. Lạy Allah, xin phù hộ bề tôi tránh khỏi điều ác của chúng. Hùng mạnh thay khi đã được Ngài giúp đỡ, vĩ đại thay lời ca ngợi dành cho Ngài, thật may mắn với Danh xưng của Ngài và không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Ngài.} Đọc lặp lại ba lần[170]. [170] Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad số (708), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad số (546).
38. Du'a chống lại kẻ thù.
اللَّهُمَّ مُنْزِلَ الكِتَابِ، سَرِيعَ الحِسَابِ، اهْزِمِ الأَحْزَابَ، اللَّهُمَّ اهزِمْهُمْ وَزَلْزِلْهُمْ[171]. [171] Muslim (3/1362), số (1742).
{Ol lo hum ma mun zi lal ki tab, sa ri ‘al hi sab, ih zi mil ah zab. Ol lo hum mah zim hum, wa zal zil hum}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Đấng ban xuống Thiên Kinh Qur’an, Đấng rất nhanh trong việc tính sổ, cầu xin hãy tiêu diệt phe đảng của chúng, tiêu diệt chúng và hãy làm rối loạn nội bộ của chúng.}
39. Nói khi sợ một nhóm người.
اللَّهُمَّ اكْفِنِيهِمْ بِمَا شِئْتَ[172]. [172] Muslim (4/2300) số (3005).
{Ol lo hum mak fi ni him bi ma shi' ta}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy bảo vệ bề tôi khỏi bọn họ bằng điều gì Ngài muốn.}
40- Du'a của người mắc phải sự hoài nghi trong đức tin Iman.
{Cầu xin Allah che chở}[173]. nói: أَعُوذُ بِاللَّهِ مِنَ الشَّيطَانِ الرَّجِيمِ [173] Al-Bukhari với Al-Fath (6/336) số (3276), và Muslim (1/120) số (134).
{A ‘u zdu bil la hi mi nash shây to nir ra jim}. Ý nghĩa: {Bề tôi cầu xin Allah che chở tránh khỏi Shaytan bị nguyền rủa.}
{Ngừng suy nghĩ về những điều mà Shaytan đã thì thầm vào lòng}[174]. [174] Al-Bukhari với Al-Fath (6/336), số (3276), và Muslim (1/120), số (134).
nói: آمَنْتُ بِاللَّهِ وَرُسُلِهِ[175]. [175] Muslim (1/119-120), số (134).
{A man tu bil la hi wa ru su li hi}. Ý nghĩa: {Bề tôi đã tin tưởng vào Allah và các Thiên Sứ của Ngài.}
Xướng đọc lời phán của Đấng Tối Cao: {Hu wal âu wa lu wal a khi ru wazh zho hi ru wal ba ti nu, wa hu wa bi kul li shây in a lim}. Ý nghĩa {Ngài là Đấng Đầu Tiên, Đấng Cuối Cùng, Đấng Bên Ngoài, Đấng Bên Trong, và Ngài có kiến thức về mọi thứ.} [chương 57 - Al-Hadid, câu 3] [176]. [176] Abu Dawood (4/329) số (5110), và Al-Albani xác thực là Hasan trong Sahih Abu Dawood (3/962).
41. Du'a sẽ giúp trả được nợ.
اللَّهُمَّ اكْفِنِي بِحَلَالِكَ عَنْ حَرَامِكَ، وَأَغْنِنِي بِفَضْلِكِ عَمَّنْ سِوَاكَ[177]. [177] At-Tirmizdi ghi (5/560), số (3563), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/180).
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنَ الهَمِّ وَالحَزَنِ، وَالعَجْزِ وَالكَسَلِ، وَالبُخْلِ وَالجُبْنِ، وَضَلَعِ الدَّيْنِ وَغَلَبَةِ الرِّجَالِ[178]. [178] Al-Bukhari (7/158) số (2893), và đã đề cập trước đó (trang 83) số (121).
{Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka mi nal hâm mi, wal ha zan, wal ‘aj zi wal ka sal, wal bukh li wal jub ni, wa đho la ‘id đây ni wa gho la ba tir ri jal}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài tránh khỏi sự lo âu, buồn rầu, bất lực, lười biếng (trong việc thờ phụng Ngài) và cầu xin tránh khỏi sự hèn nhát, khỏi sự keo kiệt, khỏi gánh nặng nợ nần, và khỏi sự áp chế của người đời.}
42. Du'a khi bị quấy nhiễu trong lúc dâng lễ Salah và đọc Kinh Qur’an.
أَعُوذُ بِاللَّهِ مِنَ الشَّيطَانِ الرَّجِيمِ
{A ‘u zdu bil la hi mi nash shây to nir ro jim}. Ý nghĩa: {Bề tôi cầu xin Allah che chở tránh khỏi lũ Shaytan bị nguyền rủa.} {rồi phun nhẹ (nước bọt) về bên tay trái (ba lần).}[179]. [179] Muslim (4/1729) số (2203), từ Hadith của 'Uthman bin Abi Al-'Ass, trong đó có đoạn: Tôi đã làm điều đó, và Allah đã xua tan nó khỏi tôi.
43. Du'a của người gặp một việc khó khăn.
اللَّهُمَّ لَا سَهْلَ إِلَّا مَا جَعَلْتَهُ سَهْلاً، وَأَنْتَ تَجْعَلُ الحَزْنَ إِذَا شِئْتَ سَهْلاً[180]. [180] Do Ibnu Hibban ghi trong Sahih của ông số (2427) (Mawarid), và Ibnu As-Sunni ghi số (351), và Al-Hafiz nói: "Đây là Hadith Sahih", và được 'Abdul Qadir Al-Arnaut xác thực là Sahih trong Takhrij Al-Azkar của An-Nawawi (trang 106).
{Ol lo hum ma la sah la il la ma ja ‘al ta hu sah la, wa anh ta taj ‘a lul haz na i zda shi’ ta sah la}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, không có sự dễ dàng ngoài điều gì được Ngài làm cho dễ dàng và nếu muốn Ngài sẽ làm việc khó thành dễ.}
44. Nói và làm những điều sau khi vi phạm tội lỗi.
{Không một ai đã làm tội lỗi, rồi chu đáo thanh tẩy cơ thể (bằng Wudu hoặc tắm Junub), rồi đứng dậy hành lễ Salah hai Rak’ah, rồi cầu xin Allah tha thứ tội lỗi, ngoại trừ được Allah xóa tội lỗi.}[181]. [181] Abu Dawood (2/86) số (1521), và At-Tirmizdi (2/257) số (406), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Abu Dawood (1/283).
45. Lời Du'a xua đuổi Shaytan và những xúi giục của nó.
{Cầu xin Allah che chở khỏi shaytan}[182] "[182] Abu Dawood (1/203) số, và Ibnu Majah (1/265) số (807) và đã được trích dẫn trước đó ở số (31), và xem: chương 23 - Al-Mu'minun, câu 97-98."
{A ‘u zdu bil la hi mi nash shây to nir ro jim}. Ý nghĩa: {Bề tôi cầu xin Allah che chở tránh khỏi lũ Shaytan bị nguyền rủa.}
(Azdan)[183]. [183] Muslim (1/291) số (389), và Al-Bukhari (1/151) số (608).
(đọc các lời tụng niệm và xướng đọc Kinh Qur'an).
{Đừng biến nhà của các ngươi thành ngôi mộ, quả thật Shaytan bỏ chạy khỏi ngôi nhà trong đó có đọc chương Al-Baqarah.}[184] [184] Muslim (1/539), số (780).
Và trong số những điều đẩy lùi Shaytan là các lời tụng niệm buổi sáng và buổi tối, khi đi ngủ và khi thức dậy, các lời tụng niệm khi ra vào nhà ở, các lời tụng niệm lúc ra vào Masjid, và những lời tụng niệm có trong giáo lý khác, chẳng hạn như: đọc Ayah Kursi khi ngủ, và hai câu cuối của chương Al-Baqarah, và người nào nói: لَا إِلٰهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ الْمُلْكُ وَلَهُ الْحَمْدُ، وَهُوَ عَلَىٰ كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều thuộc về Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ.} Một trăm lần, đó sẽ là sự bảo vệ cho y khỏi Shaytan cả ngày hôm đó[185], Và Azdan cũng đẩy lùi Shaytan. [185] Al-Bukhari (4/126), số (3293).
46. Du'a khi xảy ra điều không như ý hoặc bất lực trong công việc.
قَدَرُ اللَّهُ وَمَا شَاءَ فَعَلَ[186]. [186] {Người có đức tin mạnh mẽ tốt hơn và được Allah yêu thích hơn người có đức tin yếu ớt, và cả hai đều tốt. Hãy nắm bắt mọi điều có lợi cho ngươi, hãy cầu xin Allah phù hộ và chớ đừng lười biếng. Nếu gặp phải điều gì đó, chớ đừng nói: Giá như tôi làm thế này thì sự việc đã như thế này, thế này, mà hãy nói: Allah đã an bài và Ngài làm những gì Ngài muốn, quả thật, từ “giá như” sẽ mở lối cho hành động của Shaytan.} Muslim (4/2052) số (2664).
47. Lời chúc mừng dành cho người mới có con và lời đáp lại.
{بَارَكَ اللَّهُ لَكَ فِي المَوْهُوبِ لَكَ، وَشَكَرْتَ الوَاهِبَ، وَبَلَغَ أَشُدَّهُ، وَرُزِقْتَ بِرَّهُ}[187] [187] Được nhắc đến từ lời nói của Al-Hasan Al-Basri. Xem: Tuhfah Al-Mawdud của học giả Ibnu Qaiyim (trang 20), và ông đã quy nó cho Ibnu Al-Mundhir trong Al-Awsat.
{Ba ro kol lo hu la ka fil mâu hu bi lak, wa sha kar tal wa hib, wa ba la gho a shuđ đah, wa ru ziq ta bir roh}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban phúc lành cho anh trong đứa con này của anh, anh hãy tạ ơn Allah đã ban cho anh. Cầu xin Allah ban cho nó trưởng thành (trong sự khôn ngoan, sống thọ) và hãy thay đổi nó thành người biết vâng lời Ngài.} Và người được chúc mừng đáp lại người đó, nói: بَارَكَ اللَّهُ لَكَ وَبَارَكَ عَلَيْكَ، وَجَزَاكَ اللَّهُ خَيْرًا، وَرَزَقَكَ اللَّهُ مِثْلَهُ، وَأَجْزَلَ ثَوَابَكَ[188]. [188] Do An-Nawawi nói trong Al-Azkar (trang 349). Tham khảo: Sahih Al-Azkar của An-Nawawi, do Salim Al-Hilali (2/713), và phần thẩm tra và dẫn xuất hoàn chỉnh trong tụng niệm, cầu xin và chữa bệnh bằng Ruqyah của tác giả (1/416).
{Ba ro kol lo hu lak, wa ba ra ka ‘a lây ka, wa ja za kol lo hu khoi ro, wa ro za qo kol lo hu mith lah, wa aj za la tha wa bak}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban phúc lành cho anh, ban cho anh thêm nhiều điều tốt và ban cho anh bổng lộc như anh đã cầu xin và nhân phần thưởng của anh lên bội phần.}
48. Lời cầu xin che chở cho con cái.
Thiên Sứ của Allah ﷺ thường cầu xin Allah bảo vệ cho Al-Hasan và Al-Husain أُعِيذُكُمَا بِكَلِمَاتِ اللَّهِ التَّامَّةِ مِنْ كُلِّ شَيْطَانٍ وَهَامَّةٍ، وَمِنْ كُلِّ عَيْنٍ لَامَّةٍ[189]. [189] Al-Bukhari (4/119) số (3371), từ Hadith của Ibn 'Abbas - cầu xin Allah hài lòng với ông.
{U ‘i zdu hum bi ka li ma til la hit tam mah, min kul li shây to nin wa ham mah, wa min kul li ‘ay nin lam mah.}. Ý nghĩa: {Với những lời phán hoàn hảo của Allah bề tôi xin Ngài che chở cho chúng tránh khỏi Shaytan, khỏi mọi loài độc hại, và mọi ánh nhìn thù ghét.}
49. Cầu nguyện cho người bệnh khi thăm viếng.
لَا بأْسَ طَهُورٌ إِنْ شَاءَ اللَّهُ[190]. [190] Al-Bukhari với Al-Fath (10/118) số (3616).
{La ba’ sa to hu run, in sha Allah}. Ý nghĩa: {Không sao đâu. Đây là sự thanh tẩy (khỏi tội lỗi), nếu Allah muốn.}
{As a lul lo hal ‘a zhim, rấp bal ‘ar shil ‘a zhim anh yash fi ya ka}. Ý nghĩa: {Bề tôi khẩn cầu Allah Vĩ Đại, Thượng Đế của chiếc ngai vương vĩ đại, chữa lành bệnh cho anh (chị).} Bảy lần[191]. [191] {Bất cứ người bề tôi Muslim nào đến thăm một người bệnh chưa hết tuổi thọ, và nói bảy lần: ... thì người bệnh đó sẽ được khỏi bệnh.} Do At-Tirmidhi ghi lại với số (2083), và Abu Dawud với số (3106), và xem: Sahih At-Tirmidhi (2/210), và Sahih Al-Jami' (5/180).
50. Ân phúc của việc thăm viếng người bệnh
Nabi ﷺ nói: {Khi ai đi thăm viếng người Muslim (bị bệnh) thì y đã được đi trên con đường của Thiên Đàng cho đến khi ngồi. Khi y đã ngồi thì được bao trùm bởi lòng thương xót (của Allah) nếu vào buổi sáng thì y được bảy mươi ngàn Thiên Thần cầu xin dung thứ tội lỗi cho y cho đến chiều, còn nếu vào buổi chiều thì y được bảy mươi ngàn Thiên Thần cầu xin dung thứ tội lỗi cho y cho đến sáng.}[192]. [192] At-Tirmizdi ghi số (969), và Ibnu Majah số (1442), và Ahmad số (975), và xem thêm: Sahih Ibnu Majah (1/244) và Sahih At-Tirmizdi (1/286), và cũng được Ahmad Shakir xác thực Sahih.
51. Du'a của người bệnh đã không còn y vọng về sự sống.
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِي، وَارْحَمْنِي، وَأَلْحِقْنِي بِالرَّفِيقِ الأَعْلَى[193]. [193] Al-Bukhari (7/10), số (4435), và Muslim (4/1893), số (2444).
{Ol lo hum mứ phir li, war hâm ni, wa al hiq ni bir ro fi qil ‘a la}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin Ngài hãy tha thứ cho bề tôi, thương xót bề tôi, và xin hãy nhập bề tôi cùng với nhóm người có địa vị cao nhất ở Thiên Đàng.}
Lúc lâm chung, Nabi ﷺ nhúng hai bàn tay vào nước rồi dùng chúng lau mặt, và Người nói: لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ
{La i la ha il lol loh}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah} in na lil mâu ti sa ka rat}[194]. [194] Al-Bukhari với Al-Fath (8/144) số (4449), và trong Hadith có nhắc đến Siwak.
لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَاللَّهُ أَكْبَرُ، لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ، لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ لَهُ المُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ، لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَلَا حَوْلَ وَلَا قُوَّةَ إِلَّا بِاللَّهِ[195]. [195] At-Tirmizdi ghi số (3430), và Ibnu Majah ghi số (3794), được Al-Albani xác thực Sahih, xem: Sahih At-Tirmizdi (3/152), và Sahih Ibnu Majah (2/317).
{La i la ha il lol loh, wol lo hu ak bar, la i la ha il lol lo hu wah đah, la i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la i la ha il lol lo hu la hul mul cu wa la hul hâm đu, la i la ha il lol loh, wa La hâu la wa la cu wa ta il la bil lah}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, Allah vĩ đại nhất; không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất; không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất. Đấng không có cộng tác; không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có cộng tác, mọi quyền hành và mọi lời ca ngợi là của Ngài; không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah; không có quyền năng hay quyền thống trị nào ngoài quyền năng và quyền thống trị của Allah.}
52. Nhắc nhở người hấp hối
{Ai mà lời cuối cùng của mình là مَنْ كَانَ آخِرُ كَلَامِهِ
{La i la ha il lol loh}. (Ý nghĩa: Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah) sẽ vào Thiên Đàng}[196]. [196] Abu Dawood (3/190), số (3116), và xem: Sahih Al-Jame' (5/432).
53. Du'a của người gặp tai ương.
إِنَّا لِلَّهِ وَإِنَّا إِلَيْهِ رَاجِعُونَ، اللَّهُمَّ أْجُرْنِي فِي مُصِيبَتِي، وَأَخْلِفْ لِي خَيْرًَا مِنْهَا[197]. [197] Muslim (2/632) số (918).
{In na lil la hi wa in na i lây hi ro ji ‘un, ol lo hum ma’ jur ni fi mu si ba ti, wa akh lif li khoi ron min ha}. Ý nghĩa: {Quả thật, bầy tôi là (nô lệ) của Allah và bầy tôi sẽ trở về gặp Ngài. Lạy Allah, xin hãy kéo bề tôi tránh xa tai nạn này và hãy thay đổi cho bề tôi điều khác tốt hơn nó.}
54. Du'a khi vuốt mắt cho người chết.
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِفُلَانٍ (بِاسْمِهِ) وَارْفَعْ دَرَجَتَهُ فِي المَهْدِيِّينَ، وَاخْلُفْهُ فِي عَقِبِهِ فِي الغَابِرِينَ، وَاغْفِرْ لَنَا وَلَهُ يَا رَبَّ العَالَمِينَ، وَافْسَحْ لَهُ فِي قَبْرِهِ، وَنَوِّرْ لَهُ فِيهِ [198]. [198] Muslim (2/634) số (920).
{Ol lo hum magh fir li (tên người chết) war fa’ đa ro ja ta hu fil mah đi yin, wakh luf hu fi ‘a co bi hi fil gho bi rin, wứ phir la na wa la hu, ya rấp bal ‘a la min, waf sah la hu fi cốp rih, wa nâu wir la hu fih}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy dung thứ tội lỗi cho (tên người chết), xin hãy nâng cao địa vị của ông ấy (bà ấy) trong số người được hướng dẫn, xin hãy thay đổi kết cuộc của ông ta tốt hơn những người còn lại, xin hãy dung thứ tội lỗi cho bầy tôi và cho ông ta, lạy Thượng Đế của vũ trụ. Và hãy nới rộng ngôi mộ của ông ta và ban ánh sáng trong ngôi mộ ông ta.}
55. Lời Du'a cho người chết trong lễ nguyện Salah Janazah.
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لَهُ وَارْحَمْهُ، وَعَافِهِ، وَاعْفُ عَنْهُ، وَأَكْرِمْ نُزُلَهُ، وَوَسِّعْ مُدْخَلَهُ، وَاغْسِلْهُ بِالمَاءِ وَالثَّلْجِ وَالبَرَدِ، وَنَقِّهِ مِنَ الخَطَايَا كَمَا نَقَّيْتَ الثَّوْبَ الأَبْيَضَ مِنَ الدَّنَسِ، وَأَبْدِلْهُ دَارًا خَيْرًا مِنْ دَارِهِ، وَأَهْلاً خَيْرًا مِنْ أَهْلِهِ، وَزَوْجًَا خَيًْرا مِنْ زَوْجِهِ، وَأَدْخِلْهُ الجَنَّةَ، وَأَعِذْهُ مِنْ عَذَابِ القَبْرِ [وَعَذَابِ النَّارِ][199]. [199] Muslim (2/663) số (963).
{Ol lo hum magh fir la hu, war hâm hu, wa ‘a fi hi, wa’ fu ‘anh hu, wa ak rim nu zu la hu, wa was se’ mud kho la hu, wứ sil hu bil ma i wath thal ji wal ba rad, wa nấc ci hi mi nal kho to ya ca ma nấc coi tath thâu bal ab ya đho mi nađ đa nas, wa ab đil hu đa ron khoi ron min đa ri hi, wa ah lanh khoi ron min ah li hi, wa zâu janh khoi ron min zâu ji hi, wa ađ khil hul janh nah, wa a ‘izd hu min ‘a zda bil cốp ri, wa min ‘a zda bin nar.}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy tha thứ, xin hãy ban hồng ân, ban sự lành mạnh cho ông ta (bà ta). Hãy ban phần thưởng tốt đẹp cho ông ta ở Thiên Đàng, hãy nới rộng ngôi mộ của ông ta, hãy tẩy rửa tội lỗi ông ta (như được tắm sạch) bằng nước tinh khiết, xin hãy tẩy sạch tội lỗi ông ta giống như Ngài đã tẩy chất dơ ra khỏi áo trắng, xin hãy thay đổi ngôi nhà khác cho ông ta (ở Thiên Đàng) tốt hơn ngôi nhà (ở trần gian), xin hãy thay đổi người thân khác cho ông ta tốt hơn, xin hãy cho ông ta vào Thiên Đàng, xin hãy cứu vớt ông ta khỏi hành phạt nơi cõi mộ và hành phạt Hỏa Ngục.}
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِحَيِّنَا وَمَيِّتِنَا، وَشَاهِدِنَا وَغَائِبِنَا، وَصَغِيرِنَا وَكَبِيرِنَا، وَذَكَرِنَا وَأُنْثَانَا، اللَّهُمَّ مَنْ أَحْيَيْتَهُ مِنَّا فَأَحْيِهِ عَلَى الإِسْلَامِ، وَمَنْ تَوَفَّيْتَهُ مِنَّا فَتَوَفَّهُ عَلَى الإِيمَانِ، اللَّهُمَّ لَا تَحْرِمْنَا أَجْرَهُ، وَلَا تُضِلَّنَا بَعْدَهُ[200]. [200] Abu Dawood, số (3201), At-Tirmizdi, số (1024), An-Nasa-i', số (1985), Ibnu Majah (1/480), số (1498), Ahmad (2/368), số (8809), và xem: Sahih Ibnu Majah (1/251).
{Ol lo hum magh fir li hây yi na, wa mây yi ti na, wa sha hi đi na, wa gho i bi na, wa so ghi ri na, wa ka bi ri na, wa zda ka ro na, wa un tha na. Ol lo hum ma manh ah dây ta hu minh na fa ah yi hi ‘a lal is lam, wa manh ta waf fây ta hu minh na fa ta waf fa hu ‘a lal i man. Ol lo hum ma la tah rim na aj ro hu, wa la tu đhil la na ba’ đa hu}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy dung thứ cho người đang sống, người đã wa đời, người có mặt, người vắng mặt, trẻ em, người già, đàn ông lẫn phụ nữ trong đám bầy tôi. Lạy Allah, ai là người được Ngài ban cho sự sống, xin hãy ban cho y được sống trên Islam, còn ai đã bị Ngài lấy đi linh hồn, xin hãy ban cho y được chết trên đức tin. Lạy Allah, xin đừng bao giờ ngăn cấm phần phước của bầy tôi hiến cho ông ta và đừng bao giờ bỏ mặc bầy tôi lầm đường lạc lối sau ông ấy.}
اللَّهُمَّ إِنَّ فُلَانَ بْنَ فُلَانٍ فِي ذِمَّتِكَ، وَحَبْلِ جِوَارِكَ، فَقِهِ مِنْ فِتْنَةِ القَبْرِ، وَعَذَابِ النَّارِ، وَأَنْتَ أَهْلُ الوَفَاءِ وَالحَقِّ، فَاغْفِرْ لَهُ وَارْحَمْهُ إِنَّكَ أَنْتَ الغَفُورُ الرَّحيمُ[201]. [201] Do Ibnu Majah ghi số (1499), xem: Sahih Ibnu Majah (1/251), và Abu Dawood ghi (3/211) số (3202).
{Ol lo hum ma in na (nói tên người chết) fi zdim ma tik, wa hấp li ji wa lik, fa ci hi minh fit na til cốp ri, wa ‘a zda bin nar, wa anh ta ah lul wa fa i, wal hắc. Phứ phir la hu war hâm hu, in na ka anh tal gho fu rur ro him}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, rằng người này trong sự bảo hộ và trong lời giao ước của Ngài, xin hãy bảo vệ ông ấy khỏi hành phạt cõi mộ và hành phạt Hỏa Ngục. Ngài là Đấng Trung Trực, là Đấng Chân Lý, xin hãy thương xót ông ta. Chính Ngài là Đấng Độ Lượng, Đấng Nhân Từ.}
اللَّهُمَّ عَبْدُكَ وَابْنُ أَمَتِكَ احْتَاجَ إِلَى رَحْمَتِكَ، وَأَنْتَ غَنِيٌّ عَنْ عَذَابِهِ، إِنْ كَانَ مُحْسِنًا فَزِدْ فِي حَسَنَاتِهِ، وَإِنْ كَانَ مُسِيئًا فَتَجَاوَزْ عَنْهُ[202]. [202] Al-Hakim ghi và xác thực Sahih, được Az-Zahabi đồng tình (1/359). Tham khảo: Ahkam Al-Jana-iz của Al-Albani (trang 125).
{Ol lo hum ma ‘ắp đuk, wab nu a ma tik, eh ta ja i la roh ma tik, wa anh ta gho ni yun ‘anh ‘a zda bih. In ka na muh si nanh fa zid fi ha sa na tih, wa in ka na mu si anh fa ta ja waz ‘anh hu}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, (đây là) nô lệ của Ngài, là con của nô lệ nữ của Ngài, rất cần lòng thương xót của Ngài. Cầu xin đừng hành hạ ông ấy/bà ấy, nếu ông ấy là người tốt, xin ban thêm phần thưởng cho ông ta còn nếu là người xấu, xin bỏ qua cho ông ấy.}
56. Du'a cho trẻ nhỏ trong Salah Janazah.
اللَّهُمَّ أَعِذْهُ مِنْ عَذَابِ القَبْرِ[203]. [203] (Ông Sa'id bin Al-Musayyib kể: Tôi đã hành lễ Salah Janazah phía sau ông Abu Huroiroh cho một đứa trẻ chưa từng phạm bất kỳ một điều tội lỗi nào, và tôi nghe ông nói...) cho đến hết Hadith. Được Malik ghi lại trong quyển Al-Muwatta (1/288), Ibn Abu Shaybah trong quyển Al-Musannaf (3/217), Al-Bayhaqi (4/9), và được Shu'ayb Al-Arna'ut xác thực chuỗi truyền dẫn trong phần xác minh quyển Sharh As-Sunnah của Al-Baghawi (5/357).
{Ol lo hum ma a ‘izd hu minh ‘a zda bil cốp ri}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy bảo vệ cháu khỏi sự trừng phạt nơi cõi mộ.}
và nếu nói: اللَّهُمَّ اجْعَلْهُ فَرَطًا وَذُخْرًا لِوَالِدَيْهِ، وَشَفِيعًا مُجَابًا، اللَّهُمَّ ثَقِّلْ بِهِ مَوَازِينَهُمَا، وَأَعْظِمْ بِهِ أُجورَهُمَا، وَأَلْحِقْهُ بِصَالِحِ المُؤْمِنِينَ، وَاجْعَلْهُ فِي كَفَالَةِ إِبْرَاهِيمَ، وَقِهِ بِرَحْمَتِكَ عَذَابَ الجَحِيمِ، وَأَبْدِلْهُ دَارًا خَيْرًا مِنْ دَارِهِ، وَأَهْلًا خَيْرًا مِنْ أَهْلِهِ، اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِأَسْلَافِنَا، وَأَفْرَاطِنَا، وَمَنْ سَبَقَنَا بِالإِيمَانِ
{Ol lo hum maj ‘al hu fa ro ton wa zukh ron li wa li đây hi, wa sha fi ‘anh mu ja ba. Ol lo hum ma thấc cil bi hi ma wa zi na hu ma, wa ‘a zhim bi hi u ju ro hu ma, wa al híc hu bi so li hil mu mi nin, waj ‘al hu fi ka fa la ti ib ro him, wa ci hi bi roh ma ti ka ‘a zda bal ja him, wa ab đil hu đa ron khoi ron min đa ri hi, wa ah lanh khoi ron min ah li hi. Ol lo hum mứ phir li as la fi na, wa af ro ti na, wa manh sa ba co na bil i man}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin biến nó thành phần thưởng cho cha mẹ nó, xin hãy chấp nhận sự biện hộ của nó (cho cha mẹ nó). Lạy Allah, vì nó hãy làm cho bàn cân của cha mẹ nó được nặng thêm, vì nó hãy nhân thêm phần thưởng cho cha mẹ nó, hãy gán cho nó là người đức hạnh trong nhóm người có đức tin, xin hãy ban cho nó nằm trong sự bảo lãnh của Ibrahim, và với lòng thương xót của Ngài xin bảo vệ nó ra khỏi hành phạt của Hỏa Ngục, hãy thay đổi ngôi nhà khác cho nó (ở Thiên Đàng) tốt hơn ngôi nhà (ở trần gian), hãy thay đổi người thân khác cho nó tốt hơn. Lạy Allah, xin tha thứ cho tổ tiên của bầy tôi, cho những người phạm quá nhiều tội lỗi trong bầy tôi và những người có đức tin đã wa đời trước bầy tôi.} thì tốt hơn.[204] [204] Xem: Al-Mughni của Ibnu Qudamah (3/416), và Ad-Durus Al-Muhimmah Li Aammatil Ummah của Sheikh 'Abdul 'Aziz bin 'Abdullah bin Bazz (trang 15).
اللَّهُمَّ اجْعَلْهُ لَنَا فَرَطًا، وَسَلَفًا، وَأَجْرًا[205]. [205] Al-Hasan thường đọc Al-Fatihah cho đứa trẻ và nói... Hadith. Al-Baghawi ghi trong Sharh As-Sunnah (5/357), và Abdul Razzaq Số (6588), và Al-Bukhari ghi dưới dạng Mu'allaq trong Tập Lễ tang (65), chương đọc Al-Fatihah cho lễ tang (2/113), trước Hadith số (1335).
{Ol lo hum maj ‘al hu la na fa ro ton wa sa la fanh wa aj ro}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy cho phép nó vào Thiên Đàng trước bầy tôi để sửa soạn chỗ ở cho bầy tôi và hãy thay đổi tai nạn đó là phần thưởng cho bầy tôi.}
57. Du'a chia buồn.
إِنَّ للَّهِ مَا أَخَذَ، وَلَهُ مَا أَعْطَى، وَكُلُّ شَيْءٍ عِنْدَهُ بِأَجَلٍ مُسَمَّى... فَلْتَصْبِرْ وَلْتَحْتَسِبْ[206]. [206] Al-Bukhari (2/80) số (1284), và Muslim (2/636) số (923).
{In na lil la hi ma a kho zda, wa la hu ma ‘a to, wa kul lu shây in ‘in đa hu bi a ja lim mu sam ma . . . fal tos bir wal tah ta sib}. Ý nghĩa: {Quả thực, những gì Allah lấy và ban phát đều là của Ngài, tất cả đều được Ngài đặt trong giới hạn nhất định ... Vì thế, hãy kiên nhẫn, chịu đựng và hy vọng điều tốt đẹp.}
và nếu nói thêm: أَعْظَمَ اللَّهُ أَجْرَكَ، وَأَحْسَنَ عَزَاءَكَ، وَغَفَرَ لِمَيِّتِكَ
{‘A zho mol lo hu aj rak, wa ah sa na ‘a za ak, wa gho fa ro li may yi tik}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah nhân phần thưởng cho anh, Ngài sẽ thay đổi cho anh được tốt đẹp hơn và tha thứ cho người quá cố.} thì tốt hơn. [207] [207] (Al-Azdkar của An-Nawawi), trang 126.
58. Du'a khi đưa người chết vào ngôi mộ.
بِسْمِ اللَّهِ وَعَلَى سُنَّةِ رَسُولِ اللَّهِ[208]. [208] Abu Dawood (3/314), số 3215 với Sanad Sahih, và Ahmad, số 5234 và số 4812 với lời văn: {Bis mil lah, wa ‘a la sun na ti ro su lil lah}, và Sanad của nó là Sahih.
{Bis mil lah, wa ‘a la sun na ti ro su lil lah}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, noi theo Sunnah Thiên Sứ của Allah.}
59- Du'a sau khi chôn cất người chết.
اللَّهُمَّ اغْفِرْ لَهُ، اللَّهُمَّ ثَبِّتْهُ[209]. [209] Sau khi chôn người chết xong, Nabi ﷺ thường đứng lại và nói: {Hãy cầu xin Allah tha thứ cho người anh em của các người và cầu xin cho y sự kiên định, bởi quả thật, giờ đây y đang bị tra hỏi.} Abu Dawood (3/315) số (3223) và Al-Hakim ghi nhận, xác nhận Sahih và Al-Dhahabi cũng đồng tình (1/370).
{Ol lo hum mứ phir lah, ol lo hum ma thab bit hu}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah tha thứ cho ông ấy (bà, cô, anh...) và hãy làm vững lòng ông ta (khi bị hỏi).}
60. Du'a khi viếng mộ
السَّلاَمُ عَلَيْكُمْ أَهْلَ الدِّيَارِ، مِنَ المُؤْمِنِينَ وَالمُسْلِمِينَ، وَإِنَّا إِنْ شَاءَ اللَّهُ بِكُمْ لَاحِقُونَ، [وَيَرْحَمُ اللَّهُ المُسْتَقدِمِينَ مِنَّا وَالمُسْتأْخِرِينَ] أَسْاَلُ اللَّهَ لَنَا وَلَكُمُ العَافِيَةَ[210]. [210] Muslim (2/671), số (975), và Ibn Majah (1/494), và lời văn là của ông, số (1547), từ Hadith của Buraidah, và phần trong ngoặc vuông là từ Hadith của 'A-ishah do Muslim ghi (2/671), số (975).
{As sa la mu ‘a lây kum ah lađ đi yar, mi nal mu mi nin, wal mus li min, wa i na in sha ol lo hu bi kum la hi cun, wa yar ha mul lo hul mus taq đi mi na minh na wal mus ta’ khi rin, as a lul lo ha la na wa la ku mul ‘a fi yah}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban bình an cho tất cả người có đức tin và những người Muslim ở dưới mộ. Nếu Allah muốn, thì chúng tôi là những người nối bước theo sau các người. Cầu xin Allah mở lòng thương xót cho những ai đi trước và những ai tiếp bước theo sau trong chúng ta. Cầu xin Allah ban cho chúng ta được bình an.}
61. Du'a khi có gió (giông, bão)
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ خَيْرَهَا، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّهَا[211]. [211] Do Abu Dawood ghi (4/326) số (5099), và Ibnu Majah ghi (2/1228) số (3727), và xem: Sahih Ibnu Majah (2/305).
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka khoi ro ha, wa a ‘u zdu bi ka minh shar ri ha}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin ban hữu ích cho bề tôi từ (cơn gió này) và xin hãy che chở bề tôi tránh mọi bất lợi từ nó.}
اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ خَيْرَهَا، وَخَيْرَ مَا فِيهَا، وَخَيْرَ مَا أُرْسِلَتْ بِهِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّهَا، وَشَرِّ مَا فِيهَا، وَشَرِّ مَا أُرْسِلَتْ بِهِ[212]. [212] Muslim, và lời Hadith của ông (2/666) số (899), và Al-Bukhari (4/76) số (3206) và (4829).
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka khoi ro ha, wa khoi ro ma fi ha, wa khoi ro ma ur si lat bih, wa a ‘u zdu bi ka minh shar ri ha, wa shar ri ha ma fi ha, wa shar ri ha ma ur si lat bih}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban cho bề tôi mọi lợi ích từ cơn gió này, và với những gì theo cùng với nó và xin hãy che chở bề tôi tránh mọi điều bất lợi từ cơn gió này, và những gì theo cùng với nó.}
62. Du'a khi có sấm sét
سُبْحَانَ الَّذِي يُسَبِّحُ الرَّعْدُ بِحَمْدِهِ وَالمَلَائِكَةُ مِنْ خِيفَتِهِ[213]. [213] Khi nghe tiếng sấm, ông 'Abdullah bin Az-Zubair thường ngừng nói chuyện và nói:... Hadith, Al-Muwatta (2/992), và Al-Albani nói trong Sahih Al-Kalim At-Tayyib (157): "Sahih Al-Isnad Mauquf".
{Sub ha nal la zdi yu sấp bi hur ro’ đu bi hâm đih, wal ma la i ka tu min khi fa tih}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Đấng Tạ ơn Allah, Đấng mà sấm sét luôn ca tụng tán dương Ngài và tất cả Thiên Thần vì Ngài mà khiếp sợ.}
63. Những bài Du'a cầu mưa
اللَّهُمَّ اسْقِنَا غَيْثًا مُغِيثًا مَرِيئًا مَرِيعًا، نَافِعًا غَيْرَ ضَارٍّ، عَاجِلًا غَيْرَ آجِلٍ[214]. [214] Abu Dawood (1/303) số (1171), và Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Abu Dawood (1/216).
{Ol lo hum ma as ci na ghoi thanh mu ghi thanh ma ri anh ma ri ‘anh na fi ‘a, ghoi ro dhor rin, ‘a ji lanh ghoi ro a jil}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban cho bầy tôi cơn mưa giúp (đất đâm chồi, nẩy lộc), đầy phì nhiêu màu mỡ, có lợi cho bầy tôi và không gây hại. Cầu xin hãy ban ngay cho bầy tôi và đừng chậm trễ.}
اللَّهُمَّ أَغِثْنَا، اللَّهُمَّ أَغِثْنَا، اللَّهُمَّ أَغِثْنَا[215]. [215] Al-Bukhari (1/224), số (1014), và Muslim (2/613), số (897).
اللَّهُمَّ اسْقِ عِبَادَكَ، وَبَهَائِمَكَ، وَانْشُرْ رَحْمَتَكَ، وَأَحْيِي بَلَدَكَ المَيِّتَ[216]. [216] Abu Dawood (1/305) số (1178), và được Al-Albani xếp loại Hasan trong Sahih Abi Dawood (1/218).
{Ol lo hum mas ci ‘i ba đak, wa ba ha i mak, wanh shur roh ma tak, wa ah yi ba la đa kal mây yit}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban mưa xuống cho đám tôi tớ của Ngài và cho tất cả sinh vật, động vật của Ngài. Xin hãy ban bố lòng nhân từ của Ngài và hãy làm cho đất khô cằn được đâm chồi nẩy lộc.}
64. Du'a khi nhìn thấy mưa.
اللَّهُمَّ صَيِّبًا نَافِعًا[217]. [217] Al-Bukhari với Al-Fath (2/518), số (1032).
{Ol lo hum ma soi yi banh, na fi ‘a}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin ban cho cơn mưa này là cơn mưa mang lại lợi ích.}
65. Tụng niệm sau khi trời mưa
مُطِرْنَا بِفَضْلِ اللَّهِ وَرَحْمَتِهِ[218]. [218] Al-Bukhari (1/205) số (846), và Muslim (1/83) số (71).
{Mu tir na bi fodh lil la hi wa roh ma tih}. Ý nghĩa: {Mưa rơi xuống là ân điển và lòng thương xót của Allah cho bầy tôi}
66. Lời cầu xin khi giông gió, bão tố.
اللَّهُمَّ حَوَالَيْنَا وَلَا عَلَيْنَا، اللَّهُمَّ عَلَى الآكَامِ وَالظِّرَابِ، وَبُطُونِ الأَوْدِيَةِ، وَمَنَابِتِ الشَّجَرِ[219]. [219] Al-Bukhari (1/224), số (933), và Muslim (2/614), số (897).
67. Du'a khi nhìn thấy trăng lưỡi liềm
{Ol lo hu ak bar, ol lo hum ma a hil la hu ‘a lây na bil âm ni, wal i man, was sa la ma ti wal is lam, wat tâu fi ci li ma tu hib bu rấp ba na wa tar đho, rấp bu na wa rấp bu kol loh}[220]. [220] At-Tirmizdi (5/504), số (3451), và Ad-Darimi với nguyên văn (1/336), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/157).
{Ol lo hu ak bar, ol lo hum ma a hil la hu ‘a lây na bil âm ni, wal i man, was sa la ma ti wal is lam, wat tâu fi ci li ma tu hib bu rấp ba na wa tar đho, rấp bu na wa rấp bu kol loh}. Ý nghĩa: {"Allah Vĩ Đại Nhất. Lạy Allah, xin cho sự xuất hiện của trăng non này đến với bầy tôi trong sự bình an và đức tin, trong sự an lành và Islam, cùng với sự thành công để thực hiện những điều mà Ngài yêu thích và hài lòng. (Hỡi vầng trăng!) Thượng Đế của chúng tôi và Thượng Đế của ngươi đều là Allah."}
68. Du'a ngay lúc người nhịn chay xả chay
ذَهَبَ الظَّمَأُ وَابْتَلَّتِ العُرُوقُ، وَثَبَتَ الأَجْرُ إِنْ شَاءَ اللَّهُ[221]. [221] Do Abu Dawood ghi (2/306) số (2359), và những người khác. Và xem: Sahih Al-Jami'a (4/209).
{Zda ha bazh zho ma u, wab tal la til ‘u rúc, wa tha ba tal aj ru in sha ol loh}. Ý nghĩa: {Cơn khát đã tan biến, cổ họng đã ẩm ướt, và ân phước đã được định, insha Allah.}
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka bi roh ma ti kal la ti wa si at kul la shây in anh tagh fi ro li}[222]. [222] Do Ibnu Majah ghi (1/557) số (1753) từ lời cầu nguyện của Abdullah bin Amr (cầu xin Allah hài lòng về hai cha con ông), và được Al-Hafiz xác nhận Hasan trong Takhrij Al-Azkar. Xem: Sharh Al-Azkar (4/342).
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka bi roh ma ti kal la ti wa si at kul la shây in anh tagh fi ro li}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, thỉnh cầu sự khoan dung, độ lượng của Ngài bao trùm tất cả, xin hãy tha thứ cho bề tôi.}
69. Du'a trước khi ăn.
{Ai đó trong các ngươi khi ăn thì y hãy nói: بِسْمِ اللَّهِ
{Bis mil lah}, ý nghĩa: {Nhân danh Allah} Nếu quên không nói trước khi ăn thì hãy nói: بِسْمِ اللَّهِ فِي أَوَّلِهِ وَآخِرِهِ[223]. [223] Do Abu Dawood ghi (3/347) số (3767), và At-Tirmizdi ghi (4/288) số (1858), và xem: Sahih At-Tirmizdi (2/167).
{Bis mil la hi âu wa la hu wa a khi ro hu}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah từ đầu cho đến cuối.}
{Ai được Allah ban cho thức ăn thì hãy nói: اللَّهُمَّ بَارِكْ لَنَا فِيهِ وَأَطْعِمْنَا خَيْرًا مِنْهُ،
{Ol lo hum ma ba rik la na fi hi, wa ot ‘im na khoi ron minh hu}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban phúc lành cho bầy tôi trong thức ăn này và hãy ban cho thức ăn khác tốt hơn.} Và ai được Allah cho uống sữa thì hãy nói: اللَّهُمَّ بَارِكْ لَنَا فِيهِ وَزِدْنَا مِنْهُ[224]. [224] At-Tirmizdi (5/506), số (3455), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/158).
{Ol lo hum ma ba rik la na fi hi wa zid na minh hu}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban phúc lành cho bầy tôi trong sữa này và hãy thêm nữa cho bầy tôi.}
70. Du'a khi dùng xong thức ăn.
{الحَمْدُ لِلَّهِ الَّذِي أَطْعَمَنِي هَذَا، وَرَزَقَنِيهِ، مِنْ غَيْرِ حَوْلٍ مِنِّي وَلَا قُوَّةٍ}[225]. [225] Do các tác giả Sunan ghi ngoại trừ An-Nasa-i’: Abu Dawood ghi số (4025), At-Tirmizdi ghi số (3458), và Ibnu Majah ghi số (3285), và xem Sahih At-Tirmizdi (3/159).
{Al hâm đu lil la hil la zdi ot ‘a ma ni ha zda, wa ro za qo ni hi, min ghoi ri hâu lin minh ni, wa la cu wah}. Ý nghĩa: {Mọi lời ca ngợi, tán dương kính dâng lên Allah, Đấng đã ban cho thức ăn này và cung cấp nó cho bề tôi trong khi bề tôi không có khả năng tạo ra nó.}
الْحَمْدُ لِلَّهِ حَمْدًا كَثِيرًا طَيِّبًا مُبَارَكًا فِيهِ، غَيْرَ [مَكْفِيٍّ وَلَا] مُوَدَّعٍ، وَلَا مُسْتَغْنَىً عَنْهُ رَبَّنَا[226]. [226] Al-Bukhari (6/214) số (5458), và At-Tirmidhi với nguyên văn (5/507) số (3456).
{Al hâm đu lil la hi hâm đanh ka thi ron, toi yi banh, mu ba ra kanh fih, ghoi ro mak fi, wa la mu wađ đa’, wa la mus tứ nan ‘anh hu rấp ba na}. Ý nghĩa: {Mọi lời ca ngợi và tán dương đều thuộc về Allah, bằng sự tán dương thật nhiều, tốt đẹp và đầy phúc lành. (Sự ca ngợi ấy) không bao giờ là đủ để đáp đền (ân huệ của Ngài), không bao giờ bị từ bỏ, và bầy tôi không bao giờ có thể tự mình không cần đến Ngài, hỡi Thượng Đế của bầy tôi.}
71. Du'a của khách mời dành cho chủ thức ăn
اللَّهُمَّ بَارِكْ لَهُمْ فِيمَا رَزَقْتَهُم، وَاغْفِرْ لَهُمْ وَارْحَمْهُمْ[227]. [227] Muslim (3/1615), số (2042).
{Ol lo hum ma ba rik la hum fi ma ro zắc ta hum, wứ fir la hum, war hâm hum}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban phúc lành cho họ trong những bổng lộc mà Ngài đã cung cấp, xin hãy tha thứ và thương xót họ.}
72. Lời Du'a khi được ai mời ăn hoặc mời uống.
اللَّهُمَّ أَطْعِمْ مَنْ أَطْعَمَنِي، وَاسْقِ مَنْ سَقَانِي[228]. [228] Muslim (3/1626), số (2055).
{Ol lo hum ma ot ‘im manh ot ‘a ma ni, was ci manh sa co ni}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy cung cấp thức ăn, thức uống cho ai đã cung cấp thức ăn, thức uống cho bề tôi.}
73. Du'a khi xả chay tại nhà người khác.
أَفْطَرَ عِنْدَكُمُ الصَّائِمُونَ، وَأَكَلَ طَعَامَكُمُ الأَبْرَارُ، وَصَلَّتْ عَلَيْكُمُ المَلَائِكَةُ[229]. [229] Sunan Abu Dawood (3/367) ghi số (3856), và Ibnu Maajah (1/556) ghi số (1747), và An-Nasa-i' ghi trong (Amal Al-Yawm wa Al-Lailah), số (296-298), và có ghi rõ rằng Người ﷺ thường nói điều này khi xả chay tại nhà người khác, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Abu Dawood (2/730).
{Af to ro ‘in đa ku mus so i mun, wa a ka la to ‘a ma ku mul ab rar, wa sol lat ‘a lây ku mul ma la i kah}. Ý nghĩa: {Những người nhịn chay đã xả chay cùng các người, đã ăn thức ăn của các người và các Thiên Thần cầu xin cho sự tha thứ và phúc lành cho các người.}
74. Du'a của người nhịn chay khi thức ăn được dọn ra nhưng không muốn xả chay.
{Khi một trong các ngươi được mời thì hãy đáp lại, nếu đang nhịn chay thì hãy cầu nguyện, và nếu không nhịn chay thì hãy ăn.}[230], Câu {hãy cầu nguyện} nghĩa là hãy cầu xin. [230] Muslim (2/1054), số (1150).
75. Những gì người nhịn chay nói khi có ai đó chửi rủa y.
{Tôi đang nhịn chay, tôi đang nhịn chay.}[231] [231] Al-Bukhari với Al-Fath (4/103) số (1894), và Muslim (2/806) số (1151).
76. Du'a khi nhìn thấy trái cây đầu mùa.
اللَّهُمَّ بَارِكْ لَنَا فِي ثَمَرِنَا، وَبَارِكْ لَنَا فِي مَدِينَتِنَا، وَبَارِكْ لَنَا فِي صَاعِنَا، وَبَارِكْ لَنَا فِي مُدِّنَا[232]. [232] Muslim (2/1000) số (1373).
{Ol lo hum ma ba rik la na fi tha ma ri na, wa ba rik la na fi ma đi na ti na, wa ba rik la na fi so ‘i na, wa ba rik la na fi muđ đi na}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban phúc lành cho bầy tôi trong mùa quả này, trong thành phố này, trong So’ và trong mud của bầy tôi.}
77. Du'a khi hắt hơi.
{Khi một người trong các ngươi hắt hơi, hãy nói: الحَمْدُ لِلَّهِ،
{Alhamdulillah}, - (Ý nghĩa: Mọi lời ca ngợi và tán dương kính dâng Allah) Và người anh em hoặc người bạn của y hãy nói với y: يَرْحَمُكَ اللَّهُ،
{Yar ha mu kol loh}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah thương xót anh/chị} Nếu người đó nói với y: "يَرحَمُكَ اللَّهُ" thì y phải đáp lại nói: يَهْدِيكُمُ اللَّهُ وَيُصْلِحُ بَالَكُم[233]. [233] Al-Bukhari (7/125) số (5870).
{Yah đi ku mul loh, wa yus li hu ba la kum}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah hướng dẫn và cải thiện tình trạng của anh/chị.}
78. Điều cần nói với người Kafir khi người đó hắt hơi và nói Alhamdulillah.
يَهْدِيكُمُ اللَّهُ وَيُصْلِحُ بَالَكُمْ[234]. [234] At-Tirmizdi (5/82) số (2741), và Ahmad (4/400) số (19586), và Abu Dawood (4/308) số (5040), và xem: Sahih At-Tirmizdi (2/354).
{Yah đi ku mul loh, wa yus li hu ba la kum}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah hướng dẫn và cải thiện tình trạng của anh/chị.}
79. Du'a cho người mới kết hôn.
بَارَكَ اللَّهُ لَكَ، وَبَارَكَ عَلَيْكَ، وَجَمَعَ بَيْنَكُمَا فِي خَيْرٍ[235]. [235] Do các tác giả As-Sunan ghi ngoại trừ An-Nasa-i': Abu Dawood ghi số (2130), At-Tirmizdi ghi số (1091), và Ibnu Majah ghi số (1905), và An-Nasa-i' ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah số (259), và xem: Sahih At-Tirmizdi (1/316).
{Ba ro kol lo hu lak, wa ba ro ka ‘a lây ka, wa ja ma ‘a bây na ku ma fi khoir}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban hồng phúc cho bạn và kết hợp hai bạn trong mọi điều tốt đẹp.}
80. Du'a của người mới kết hôn và khi mua con vật cưỡi mới (phương tiện đi lại) mới.
{Khi ai đó trong các người kết hôn với một người phụ nữ, hoặc khi mua một người hầu, thì hãy nói: اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ خَيْرَهَا، وَخَيْرَ مَا جَبَلْتَهَا عَلَيْهِ، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّهَا، وَشَرِّ مَا جَبَلْتَهَا عَلَيْهِ
{Ol lo hum ma in ni as a lu ka khoi ro ha, wa khoi ro ma ja bal ta ha ‘a lây hi, wa a ‘u zdu bi ka minh shar ri ha, wa shar ri ma ja bal ta ha ‘a lây hi}. Ý nghĩa: (Lạy Allah! Quả thật, bề tôi cầu xin Ngài điều tốt đẹp nơi người ấy, và điều tốt đẹp trong bản tính mà Ngài đã tạo dựng nơi người ấy. Đồng thời, bề tôi cầu xin Ngài che chở bề tôi khỏi điều xấu nơi người ấy, và khỏi điều xấu trong bản tính mà Ngài đã tạo dựng nơi người ấy.) Và khi mua một con lạc đà, hãy nắm lấy đỉnh bướu của nó và nói điều tương tự” [236]. [236] Abu Dawood (2/248) số (2160), và Ibn Majah (1/617) số (1918), và xem: Sahih Ibnu Majah (1/324).
81. Du'a trước khi gần gũi vợ.
بِسْمِ اللَّهِ، اللَّهُمَّ جَنِّبْنَا الشَّيْطَانَ، وَجَنِّبِ الشَّيْطَانَ مَا رَزَقْتَنَا[237]. [237] Al-Bukhari (6/141) số (141), và Muslim (2/1028) số (1434).
{Bis mil lah, ol lo hum ma jam nib nash shây ton, wa jam ni bish shây to na ma ro zaq ta na}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah. Lạy Allah, xin hãy mang Shaytan tránh xa bầy tôi và tránh xa mọi bổng lộc mà Ngài ban tặng cho bầy tôi.}
82. Du'a khi nổi giận
أَعُوذُ بِاللَّهِ مِنَ الشَّيْطَانِ الرَّجِيمِ[238]. [238] Al-Bukhari (7/99) số (3282), và Muslim (4/2015) số (2610).
{A ‘u zdu bil la hi mi nash shây to nir ro jim}. Ý nghĩa: {Bề tôi cầu xin Allah che chở khỏi Shaytan bị nguyền rủa}
83. Du'a của người gặp sự thử thách (hoặc tai nạn) xảy ra đối với người khác.
الحَمْدُ لِلَّهِ الَّذِي عَافَانِي مِمَّا ابْتَلَاكَ بِهِ، وَفَضَّلَنِي عَلَى كَثِيرٍ مِمَّنْ خَلَقَ تَفْضِيلًا[239]. [239] At-Tirmizdi (5/494) và (5/493) số (3432), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/153).
{Al hâm đu lil la hil la zdi ‘a fa ni mim mab ta la ka bih, wa fodh đho la ni ‘a la ka thi rim mim manh kho la qo taf đhi la}. Ý nghĩa: {Xin tạ ơn Allah Đấng đã ban cho bề tôi tránh được sự thử thách (hoặc tai nạn) và đã ban cho bề tôi rất nhiều sự ưu đãi hơn những người khác.}
84. Những lời thường nói trong một cuộc ngồi
Theo ông Ibn 'Umar kể: Trong một buổi ngồi, người ta đếm được Thiên Sứ của Allah ﷺ nói một trăm lần trước khi Người đứng dậy: رَبِّ اغْفِرْ لِي، وَتُبْ عَلَيَّ، إِنَّكَ أَنْتَ التَّوَّابُ الغَفُورُ[240] [240] At-Tirmizdi ghi số (3434), và Ibnu Majah ghi số (3814), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/153), và Sahih Ibnu Majah (2/321), và lời của At-Tirmizdi.
{Rab bigh fir li, wa tub ‘a lây da, in na ka anh tat tâu wa bul gho fur}. Ý nghĩa: {Lạy Thượng Đế bề tôi, xin hãy tha thứ và chấp nhận sự sám hối của bề tôi. Bởi vì, Ngài là Đấng rất yêu thích ai quay lại sám hối, Ngài là Đấng Rộng Lượng.}
85. Lời Du'a chuộc tội sau khi kết thúc một buổi họp mặt.
سُبْحَانَكَ اللَّهُمَّ وَبِحَمْدِكَ، أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا أَنْتَ، أَسْتَغْفِرُكَ وَأَتُوبُ إِلَيْكَ[241]. [241] Các tác giả As-Sunan: Abu Dawood ghi số (4858), At-Tirmizdi ghi số (3433), và An-Nasa-i' ghi số (1344), và xem Sahih At-Tirmizdi (3/153), và đã được xác thực rằng bà 'A-ishah nói: {Thiên Sứ của Allah ﷺ không ngồi lại một chỗ nào, không đọc Qur'an, và không hành lễ Salah nào mà không kết thúc điều đó bằng những lời...} đến hết Hadith, An-Nasa-i' ghi trong ('Amal Al-Yawm wal-Laylah) số (308), và Ahmad (6/77) ghi số (24486), được Tiến sĩ Farooq Hamadah xác thực Sahih trong bản thẩm định của ông cho tác phẩm ('Amal Al-Yawm wal-Laylah) của An-Nasa-i' (trang 273).
{Sub ha na kol lo hum ma wa bi hâm đik, ash ha đu al la i la ha il la anh ta, as tứ phi ru ka, wa a tu bu i lây ka}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Vinh quang thay Ngài, mọi ca ngợi và tán dương kính dâng Ngài, bề tôi chứng nhận không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Ngài. Cầu xin Ngài tha thứ tội cho bề tôi và bề tôi trở về sám hối với Ngài.}
86- Du'a cho người nói: {غَفَرَ اللهُ لَكَ} - {Gho fa rol lo hu lak} - {Cầu xin Allah tha thứ cho anh!}
وَلَكَ[242]. [242] Ahmad ghi số (5/82), số (20778), và An-Nasa-i ghi trong Amal Al-Yawm wa Al-Laylah (trang 218), số (421), do Tiến sĩ Faruq Hamadah thẩm định.
{Wa lak} - {và (cũng cầu xin Ngài tha tha thứ) cho anh}
87. Du'a cho người đã làm điều tốt cho mình.
جَزَاكَ اللَّهُ خَيْرًا[243]. [243] At-Tirmizdi ghi số (2035), và xem: Sahih Al-Jami'a số (6244) và Sahih At-Tirmizdi (2/200).
{Ja za kol lo hu khoi ro}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban điều tốt lành cho anh.}
88. Điều mà nhờ đó Allah sẽ bảo vệ một người khỏi Dajjal.
{Bất cứ ai ghi nhớ mười câu Kinh đầu tiên của chương Al-Kahf sẽ được bảo vệ khỏi Dajjal.}[244], Và cầu xin sự che chở nơi Allah tránh khỏi thử thách Dajjal sau Tashahhud cuối trong mỗi Salah[245]. [245] Xem: Hadith số (55), và Hadith (56) (trang 41) trong quyển sách này. [244] Muslim (1/555) số (809), và trong một đường truyền ghi khác: từ phần cuối chương Al-Kahf (1/556) số (809).
89. Lời Du'a dành cho người nói: { إِنِّي أُحِبُّكَ فِي اللَّهِ} - {In ni u hib bu ka fil lah} - {Tôi yêu thương anh vì Allah}
أَحَبَّكَ الَّذِي أَحْبَبْتَنِي لَهُ[246]. [246] Do Abu Dawood ghi (4/333) số (5125), và Al-Albani xác thực Hasan trong Sahih Sunan Abu Dawood (3/965).
{A hab ba kal la zdi ah bab ta ni la hu}. Ý nghĩa: {Đấng mà anh đã yêu thương tôi vì Ngài sẽ thương yêu lại anh.}
90. Du'a cho người tặng tài sản của họ cho bạn.
بَارَكَ اللَّهُ لَكَ فِي أَهْلِكَ وَمَالِكَ»[247]. [247] Al-Bukhari với Al-Fath (4/288) số (2049).
{Ba ro kol lo hu la ka phi ah li ka wa ma li ka}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban hồng phúc cho gia đình anh và tài sản của anh.}
91. Du'a cho chủ nợ khi trả nợ.
بارَكَ اللَّهُ لَكَ فِي أَهْلِكَ وَمَالِكَ، إِنَّمَا جَزَاءُ السَّلَفِ الحَمْدُ وَالأَدَاءُ[248]. [248] Do An-Nasa-i' ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah (trang 300), và Ibnu Majah (2/809) ghi số (2424), và xem: Sahih Ibnu Majah (2/55).
{Ba ro kol lo hu la ka phi ah li ka wa ma li ka, in na ma ja za us sa la phil hâm đu wal a đa’}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban hồng phúc cho gia đình anh và tài sản của anh.}
92- Du'a khi lo sợ rơi vào Shirk.
اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ أَنْ أُشْرِكَ بِكَ وَأَنَا أَعْلَمُ، وَأَسْتَغْفِرُكَ لِمَا لَا أَعْلَمُ[249]. [249] Ahmad (4/403) số (19606), và Al-Adab Al-Mufrad của Al-Bukhari số (716), và xem: Sahih Al-Jami' (3/233), và Sahih At-Targhib và At-Tarhib của Al-Albani (1/19).
{Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka anh ush ri ka bi ka wa a na ‘a lâm, wa as tứ phi ru ka li mala ‘a lâm}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, khẩn xin Ngài che chở bề tôi tránh khỏi hành động Shirk với Ngài trong lúc bề tôi biết và khẩn xin Ngài tha thứ cho những gì bề tôi không biết.}
93. Lời Du'a cho người nói: {بَارَكَ اللَّهُ فِيكَ} - {Ba ro kol lo hu phi ka} - {Cầu xin Allah ban phúc lành cho anh!}
وَفِيكَ بَارَكَ اللَّهُ[250]. [250] Do Ibnu As-Sunni ghi (trang 138) số (278), và xem: “Al-Wabil As-Sayyib” của Ibnu Al-Qayyim (trang 304), do Bashir Muhammad 'Uyun hiệu đính.
{Wa phi ka ba ro kol loh}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban hồng phúc cho anh.}
94. Lời Du'a khi cảm thấy lo ngại vì điềm gở hoặc để xóa bỏ sự mê tín về điềm gở.
اللَّهُمَّ لَا طَيْرَ إِلَّا طَيْرُكَ، وَلَا خَيْرَ إِلَّا خَيْرُكَ، وَلَا إِلَهَ غَيْرُكَ[251]. [251] Ahmad (2/220) số (7045), và Ibnu As-Sunni số (292), và được Al-Albani xác thực Sahih trong bộ chuỗi Hadith Sahih (3/54) số (1065), còn đối với lời nói tốt đẹp thì Nabi ﷺ rất thích; vì vậy, khi nghe được một lời tốt lành từ một người đàn ông khiến Người thích, Người đã nói: {Ta đã lấy điều tốt của ngươi từ miệng ngươi}, Abu Dawood số (3719), và Ahmad số (9040), và được Al-Albani xác thực Sahih trong bộ chuỗi Hadith Sahih (2/363), ghi tại Abu Ash-Shaikh trong Akhlaq An-Nabi ﷺ (tr. 270).
{Ol lo hum ma la toi ro il la toi ruk, wa la khoi ro il la khoi ruk, wa la i la ha ghoi ruk}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, không có điềm xấu nào ngoại trừ điềm xấu của Ngài giáng xuống, và cũng không có điềm tốt nào mà chỉ có điềm tốt của Ngài ban tặng. Và cũng không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Ngài.}
95. Du'a khi lên tàu, xe, ngựa…
بِسْمِ اللَّهِ، وَالحَمْدُ للَّهِ
{Bis mil lah, wal hâm đu lil lah}. Ý nghĩa: (Nhân danh Allah. Mọi lời ca ngợi và tán dương kính dâng Ngài) سُبْحَانَ الَّذِي سَخَّرَ لَنَا هَذَا وَمَا كُنَّا لَهُ مُقْرِنِينَ
{sub ha nal la zdi sakh kho ro la na ha zda, wa ma kun na la hu muq ri nin}. Ý nghĩa: (Quang vinh thay Đấng đã chế ngự (phương tiện) này cho bầy tôi, bởi quả thật bầy tôi không đủ khả năng chế ngự nó.) وَإِنَّا إِلَى رَبِّنَا لَمُنقَلِبُونَ
{wa in na i la rấp bi na la mun co li bun}. Ý nghĩa: (Và bầy tôi chắc chắn sẽ trở về trình diện Thượng Đế của bầy tôi!) الحَمْدُ لِلَّهِ، الحَمْدُ لِلَّهِ، الحَمْدُ لِلَّهِ، اللَّهُ أَكْبَرُ، اللَّهُ أَكْبَرُ، اللَّهُ أَكْبَرُ، سُبْحَانَكَ اللَّهُمَّ إِنِّي ظَلَمْتُ نَفْسِي فَاغْفِرْ لِي؛ فَإِنَّهُ لَا يَغْفِرُ الذُّنُوبَ إِلَّا أَنْتَ[252]. [252] Abu Dawood (3/34) số (2602), và At-Tirmizdi (5/501) số (3446), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/156), chương 43 - Az-Zukhruf, câu 13- 14.
Al hâm đu lil lah, al hâm đu lil lah, al hâm đu lil lah, ol lo hu ak bar, ol lo hu ak bar, ol lo hu ak bar, sub ha na kol lo hum ma in ni zho lâm tu naf si, phứ phir li, fa in na hu la dứ fi ruzd zdu nu ba il la anh ta}. Ý nghĩa {Allah vĩ đại nhất, Vinh quang thay Ngài, Thượng Đế của bề tôi. Quả thực, bề tôi đã sai quấy, cầu xin Ngài sự tha thứ, khoan dung cho bề tôi vì không ai có khả năng tha thứ tội lỗi mà chỉ có Ngài.}
96. Lời Du'a khi đi xa
اللَّهُ أَكْبَرُ، اللَّهُ أَكْبَرُ، اللَّهُ أَكْبَرُ
{Ol lo hu ak bar, ol lo hu ak bar, ol lo hu ak bar}. Ý nghĩa: {Allah vĩ đại nhất, Allah vĩ đại nhất, Allah vĩ đại nhất} سُبْحَانَ الَّذِي سَخَّرَ لَنَا هَذَا وَمَا كُنَّا لَهُ مُقْرِنِينَ
{Sub ha nal la zdi sakh kho ro la na ha zda, wa ma kun na la hu muq ri nin}. Ý nghĩa (Quang vinh thay Đấng đã chế ngự (phương tiện) này cho bầy tôi, bởi quả thật bầy tôi không đủ khả năng chế ngự nó.) وَإِنَّا إِلَى رَبِّنَا لَمُنقَلِبُونَ
{wa in na i la rấp bi na la mun co li bun}. Ý nghĩa {Và bầy tôi chắc chắn sẽ trở về trình diện Thượng Đế của bầy tôi} اللَّهُمَّ إِنّا نَسْأَلُكَ فِي سَفَرِنَا هَذَا البِرَّ وَالتَّقْوَى، وَمِنَ العَمَلِ مَا تَرْضَى، اللَّهُمَّ هَوِّنْ عَلَيْنَا سَفَرَنَا هَذَا وَاطْوِ عَنَّا بُعْدَهُ، اللَّهُمَّ أَنْتَ الصَّاحِبُ فِي السَّفَرِ، وَالخَليفَةُ فِي الأَهْلِ، اللَّهُمَّ إِنِّي أَعُوذُ بِكَ مِنْ وَعْثَاءِ السَّفَرِ، وَكَآبَةِ المَنْظَرِ، وَسُوءِ المُنْقَلَبِ فِي المَالِ وَالأَهْلِ
{Ol lo hum ma in na nas a lu ka phi sa fa ri na ha zdal bir ro wat tắt wa, wa mi nal ‘a ma li ma tar đho. Ol lo hum ma hâu win ‘a lây na sa fa ro na ha zda, wot wi ‘anh na bua’ đah. Ol lo hum ma an tos so hi bi fis sa far, wal kho li fa tu fil ah li. Ol lo hum ma in ni a ‘u zdu bi ka minh wa’ tha is sa far, wa ka a ba til manh zhor, wa su il mun co la bi fil ma li wal ah li}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy ban cho chuyến đi này đầy ý nghĩa và kính sợ (Ngài) và xin hãy ban cho bầy tôi thực hiện được những việc làm Ngài hài lòng. Lạy Allah, xin hãy làm cho chuyến đi này thật thanh thản, dễ dàng và ngắn lại. Ngài là Đấng cận kề phù hộ bề tôi trong chuyến đi, là Đấng giám hộ gia đình bề tôi ở quê nhà. Cầu xin hãy che chở cho bề tôi tránh khỏi mọi khó khăn, mệt nhọc trong chuyến đi và tránh xa mọi điều xấu xảy ra trong gia đình cũng như tài sản khi trở về} Khi quay về vẫn lặp lại lời cầu xin này và nói thêm: آيِبُونَ، تائِبُونَ، عَابِدُونَ، لِرَبِّنَا حَامِدُونَ[253]. [253] Muslim (2/978) số (1342).
{A yi bun, ta i bun, ‘a bi đun, li rab bi na ha mi đun}. Ý nghĩa: {Bầy tôi là những người trở về, những người sám hối, những người thờ phượng, và những người luôn ca tụng Thượng Đế của bầy tôi.}
97. Du'a khi vào làng hoặc thị trấn.
اللَّهُمَّ رَبَّ السَّمَوَاتِ السَّبْعِ وَمَا أَظْلَلْنَ، وَرَبَّ الأَرَضِينَ السَّبْعِ وَمَا أَقْلَلْنَ، وَرَبَّ الشَّياطِينِ وَمَا أَضْلَلْنَ، وَرَبَّ الرِّيَاحِ وَمَا ذَرَيْنَ، أَسْأَلُكَ خَيْرَ هَذِهِ القَرْيَةِ، وَخَيْرَ أَهْلِهَا، وَخَيْرَ مَا فِيهَا، وَأَعُوذُ بِكَ مِنْ شَرِّهَا، وَشَرِّ أَهْلِهَا، وَشَرِّ مَا فِيهَا[254]. [254] Al-Hakim và đã xác thực Sahih, được Az-Zahabi đồng tình (2/100), và Ibnu As-Sunni ghi số (524), và được Al-Hafiz xác thực Hasan trong Takhrij Al-Azkar (5/154), Đại học giả Ibnu Bazz nói: “Và An-Nasa-i ghi lại với Isnad Hasan”. Xem: Tuhfah Al-Akhyar (trang 37).
{Ol lo hum ma rấp bas sa ma wa tis sab ‘i wa ma ozh lal na, wa rấp bal ar đhi nas sab ‘i wa ma ắc lal na, wa rấp bash sha ya ti ni wa ma ozh lal na, wa rấp bar ri ya hi wa ma zda roi na, as a lu ka kho ro ha zdi hil car yah, wa khoi ro ah li ha, wa khoi ro ma fi ha, wa a ‘u zdu bi ka minh shar ri ha, wa shar ri ah li ha, wa shar ri ma fi ha}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, Ngài là Chủ Nhân của bảy tầng trời và những gì chúng che phủ. Là Chủ Nhân của bảy tầng đất và những gì chúng mang trên mình. Là Chủ Nhân của những tên Shaytan và những kẻ mà chúng làm lạc lối. Là chủ Nhân của các cơn gió mà mọi thứ mà chúng quét đi, phát tán. Bề tôi cầu xin những điều tốt ở ngôi làng này, của thị dân và điều tốt lành của mọi thứ trong đó. Và bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh mọi điều xấu ở ngôi làng, mọi điều xấu của thị dân và mọi điều xấu trong đó.}
98. Lời Du'a khi vào chợ
لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ المُلْكُ، وَلَهُ الحَمْدُ، يُحْيِي وَيُمِيتُ، وَهُوَ حَيٌّ لَا يَمُوتُ، بِيَدِهِ الخَيْرُ، وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ[255]. [255] At-Tirmizdi số (3428), và Ibnu Majah (5/291) số (3860), và Al-Hakim (1/538), và được Al-Albani xác nhận Hasan trong Sahih Ibnu Majah (2/21), và trong Sahih At-Tirmizdi (3/152).
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, yuh yi wa yu mit, wa hu wa hây yun la ya mut, bi ya đi hil khoi ru, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Ngài không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài, Ngài là Đấng ban cho sự sống và cái chết, Ngài là Đấng Sống Mãi, Đấng Bất Diệt. Tất cả mọi điều tốt, (điều xấu) đều trong tay Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ.}
99. Du'a khi hư tàu, xe hoặc ngựa bệnh…
بِسْمِ اللَّهِ[256]. [256] Abu Dawood (4/296) số (4982), và Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Abi Dawood (3/941).
{Bis mil lah}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah}
100. Người đi xa cầu xin cho người ở lại:
أَسْتَوْدِعُكُمُ اللَّهَ الَّذِي لَا تَضِيعُ وَدَائِعُهُ[257]. [257] Ahmad ghi (2/403) số (9230), và Ibnu Maajah (2/943) số (2825), và xem: Sahih Ibnu Maajah (2/133).
{As tâu đi ‘u ku mul loh, al la zdi la ta đhi ‘u wa đa i ‘u hu}. Ý nghĩa: {Bề tôi xin ký thác mọi người cho Allah, Ngài là Đấng không hề làm mất vật đã được ký thác cho Ngài.}
101. Lời cầu xin của người ở lại cầu xin cho người đi xa
أَسْتَوْدِعُ اللَّهَ دِينَكَ، وَأَمَانَتَكَ، وَخَوَاتِيمَ عَمَلِكَ[258]. [258] Ahmad ghi số (2/7), số (4524) và At-Tirmizdi ghi số (5/499), số (3443), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Sunan At-Tirmizdi, số (3/419).
{As tâu đi ‘ul lo ha đi nak, wa a ma na tak, wa kho wa ti ma ‘a ma lik}. Ý nghĩa: {Tôi xin giao phó tôn giáo anh, tài sản của anh và kết quả hành đạo của anh cho Allah.}
زَوَّدَكَ اللَّهُ التَّقْوَى، وَغَفَرَ ذَنْبَكَ، وَيَسَّرَ لَكَ الخَيْرَ حَيْثُ ما كُنْتَ[259]. [259] At-Tirmizdi, số (3444), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/155).
{Zâu wa ka kol lo hut tắc wa, wa gho pha ro zdâm bak, wa yas sa ro la kal khoi ro hây thu ma kun ta}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah ban cho anh thêm lòng kính sợ, tha thứ tội lỗi cho anh và làm cho nơi anh ở mọi việc đều dễ dàng thuận lợi tốt đẹp.}
102. Takbir và Tasbih khi đang trên hành trình.
Ông Jabir - cầu xin Allah hài lòng với ông - nói: {Khi chúng tôi đi lên những nơi trên cao, chúng tôi Takbir, nói: اللَّهُ أَكْبَرُ
(Ol lo hu ak bar) - (Ý nghĩa: Allah vĩ đại nhất) {Và khi chúng tôi đi xuống những nơi thấp, chúng tôi Tasbih.} [260]. nói: سُبْحَانَ اللَّهِ [260] Al-Bukhari với Al-Fath (6/135) số (2993).
(Sub ha nol loh) - (Ý nghĩa: Allah hiển vinh)
103. Du'a của người đi đường lúc đêm (trước rạng đông)
سَمَّعَ سَامِعٌ بِحَمْدِ اللَّهِ، وَحُسْنِ بَلَائِهِ عَلَيْنَا، رَبَّنَا صاحِبْنَا، وَأَفْضِلْ عَلَيْنَا، عَائِذًا بِاللَّهِ مِنَ النَّارِ[261]. [261] Muslim (4/2086) số (2718), và ý nghĩa của 'Sâm ma ‘a sa mi ‘un': nghĩa là có người làm chứng cho việc chúng ta ca ngợi Allah Tối Cao về những ân huệ và sự thử thách tốt đẹp của Ngài. Và ý nghĩa của 'Sâm ma ‘a sa mi ‘un': người nghe được lời này của tôi hãy truyền đạt lại cho người khác, và nói tương tự như vậy để nhắc nhở về việc tưởng nhớ và cầu nguyện vào lúc rạng sáng. Sharh An-Nawawi cho Sahih Muslim (17/39).
{Sâm ma ‘a sa mi ‘un bi hâm đil lah, wa hus ni ba la i hi ‘a lây na, rấp ba na so híp na, wa af đhil ‘a lây na ‘a i zdanh bil la hi mi nanh nar}. Ý nghĩa: {Cầu xin có người truyền đi và lắng nghe lời ca ngợi Allah cùng sự thử thách tốt đẹp (ân huệ) mà Ngài đã ban cho chúng ta. Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Xin Ngài đồng hành cùng bầy tôi (trong chuyến đi) và rộng lượng ban thêm ân phúc cho bầy tôi. Bề tôi cầu xin Allah che chở khỏi Hỏa Ngục.}
104. Lời Du'a khi dừng chân tại một nơi, dù trong chuyến đi hay ngoài chuyến đi
أَعُوذُ بِكَلِمَاتِ اللَّهِ التَّامَّاتِ مِنْ شَرِّ مَا خَلَقَ [262]. [262] Muslim (4/2080), số (2709).
105. Lời tụng niệm khi trở từ một chuyến đi.
«Takbir trên mỗi vùng đất cao ba lần, sau đó nói: لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ المُلْكُ، وَلَهُ الحَمْدُ، وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ، آيِبُونَ، تَائِبُونَ، عَابِدُونَ، لِرَبِّنا حَامِدُونَ، صَدَقَ اللَّهُ وَعْدَهُ، وَنَصَرَ عَبْدَهُ، وَهَزَمَ الأَحْزابَ وَحْدَهُ[263]. [263] Nabi ﷺ thường nói điều này khi trở về từ một cuộc chiến hoặc Hajj, Al-Bukhari (7/163) số (1797), và Muslim (2/980) số (1344).
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir; a yi bun, ta i bun, ‘a bi đun, li rấp bi na ha mi đun; so đa col lo hu wa’ đah, wa na so ro ‘ấp đah, wa ha za mal ah za ba wah đah}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ. Bầy tôi quay trở về sám hối với Allah, thành tâm tôn thờ Ngài. Và vì Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi ca tụng, tán dương. Lời giao ước của Allah giúp đỡ đám nô lệ của Ngài là thật và duy chỉ Ngài đã hủy diệt phe đảng (chống đối).}
106. Điều người Muslim nên nói khi gặp một việc khiến mình vui mừng hoặc khiến mình không thích
Nabi ﷺ thường nói khi có sự việc làm Người vui mừng: الحَمْدُ لِلَّهِ الَّذِي بِنِعْمَتِهِ تَتِمُّ الصَّالِحَاتُ
{Al hâm đu lil la hil la zdi bi ne’ ma ti hi ta tim mus so li hat}. Ý nghĩa: {Mọi lời ca ngợi, tán dương đều kính dâng Allah, Đấng mà nhờ có ân huệ của Ngài mọi việc thiện tốt đều được hoàn thành.} Và khi có điều Người không thích xảy đến, Người ﷺ nói: الحَمْدُ لِلَّهِ عَلَى كُلِّ حَالٍ[264]. [264] Ibnu As-Sunni ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah số (377), và Al-Hakim ghi và xác thực Sahih số (1/499), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Jami'a số (4/201).
{Al hâm đu lil la hi ‘a la kul li hal}. Ý nghĩa: {Tạ ơn Allah trong mọi hoàn cảnh.}
107. Ân phúc của Salawat cho Nabi ﷺ
Nabi ﷺ nói: {Ai Salawat cho Ta một lần, Allah sẽ Salawat cho người đó mười lần.}[265]. như nói: اللَّهُمَّ صَلِّ وَسَلِّمْ عَلَى نَبِيِّنَا مُحَمَّدٍ [265] Do Muslim ghi (1/288) số (384).
(Ol lo hum ma sol li wa sal lim 'a la na bi yi na Muhammad) - (Ý nghĩa: Lạy Allah, xin hãy ban bình an và phúc lành cho Nabi Muhammad của bầy tôi).
và Người ﷺ nói: {Các ngươi chớ biến ngôi mộ của Ta thành nơi tụ tập lễ tết, và hãy Salawat cho Ta; bởi quả thật lời Salawat của các ngươi sẽ đến được với Ta dù các ngươi ở bất cứ nơi đâu}[266]. [266] Abu Dawood (2/218) số (2044), và Ahmad (2/367) số (8804), và Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Abu Dawood (2/383).
và Người ﷺ nói: {Người keo kiệt là người mà khi Ta được nhắc đến trước mặt y nhưng y không Salawat cho Ta.}[267]. [267] At-Tirmizdi ghi (5/551), số 3546, và những người khác, và xem: Sahih Al-Jami'a (3/25), và Sahih At-Tirmizdi (3/177).
và Người ﷺ nói: {Allah có các Thiên Thần đi khắp trái đất để truyền đạt cho Ta lời chào Salam từ cộng đồng tín đồ của Ta.}[268]. [268] An-Nasa-i' (3/43) số (1282), và Al-Hakim (2/421), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i (1/274).
và Người ﷺ nói: {Bất cứ người Muslim nào chào Salam Ta, Allah sẽ trả lại linh hồn cho Ta để Ta đáp lại lời chào Salam của người đó.}[269]. [269] Abu Dawood, số (2041), và được Al-Albani xếp loại Hasan trong Sahih Abu Dawood (1/383).
108. Lan truyền lời chào Salam
Thiên Sứ của Allah ﷺ nói: {Các người sẽ không ai được vào Thiên Đàng cho đến khi các ngươi có đức tin, và các ngươi sẽ không có đức tin (hoàn thiện) cho đến khi các người yêu thương lẫn nhau. Các ngươi có muốn Ta dạy một điều mà khi các ngươi thực hiện nó, các ngươi sẽ yêu thương lẫn nhau không? Hãy lan truyền lời chào Salam giữa các ngươi}[270]. [270] Muslim (1/74) ghi số (54) và Ahmad ghi số (1430) và lời Hadith là của ông, và lời Hadith của Muslim: «Các người sẽ không vào...».
{Ba điều, ai hội đủ chúng thì đã hội đủ (những phẩm chất của) đức tin: đối xử công bằng ngay với chính bản thân mình; chủ động chào Salam đến mọi người; và chi tiêu (vì Allah) ngay cả khi bản thân đang thiếu thốn.}[271]. [271] Al-Bukhari với Al-Fath (1/82), số (28), từ 'Ammar dưới dạng Mawquf, Mu'allaq.
Ông 'Abdullah bin 'Umar thuật lại: Một người đàn ông đã hỏi Nabi ﷺ: Việc làm nào tốt nhất trong Islam? Người ﷺ nói: {Nuôi ăn người nghèo, chào Salam đến người quen biết và không quen biết.}[272]. [272] Al-Bukhari với Al-Fath (1/55), số (12), và Muslim (1/65), số (39).
109. Cách đáp lại lời chào Salam đối với người vô đức tin nếu họ có chào Salam
{Khi Người của Kinh Sách chào Salam các ngươi thì các ngươi hãy nói: {وَعَلَيْكُمْ}.}[273]. [273] Al-Bukhari với Al-Fath (11/42), số (6258), và Muslim (4/1705), số (2163).
{Wa a lây kum} - {Ý nghĩa: và cho các người}
110. Du'a khi nghe tiếng gà gáy và tiếng hí của lừa.
{Nếu các ngươi nghe thấy tiếng gáy của những con gà trống, thì hãy cầu xin Allah ban cho hồng ân của Ngài; vì chúng đã nhìn thấy một vị Thiên Thần, như nói: اللَّهُمَّ إِنِّي أَسْأَلُكَ مِنْ فَضْلِكَ
(Ol lo hum ma in ni as a lu ka minh fodh lik). {Ý nghĩa: Lạy Allah, bề tôi cầu xin thiên lộc nơi Ngài.} {Và khi các ngươi nghe tiếng hí của lừa thì hãy cầu xin Allah phù hộ che chở khỏi Shaytan; bởi vì quả thật nó đã nhìn thấy Shaytan.}[274] như nói: أَعُوذُ بِاللَّهِ مِنَ الشَّيْطَانِ الرَّجِيمِ. [274] Al-Bukhari với Al-Fath (6/350), số (3303), và Muslim (4/2092), số (2729).
(A 'u zdu bil la hi mi nash shây to nir ro jim). {Ý nghĩa: Bề tôi cầu xin Allah che chở tránh khỏi Shaytan bị trục xuất!}
111. Du'a khi nghe tiếng chó sủa vào ban đêm.
{Khi các ngươi nghe thấy tiếng chó sủa và tiếng hí của con lừa vào ban đêm, hãy cầu xin Allah che chở khỏi chúng; bởi thực sự chúng nhìn thấy những gì các ngươi không thấy.}[275]. như nói: أَعُوذُ بِاللَّهِ مِنَ الشَّيْطَانِ الرَّجِيمِ [275] Abu Dawood (4/327) số (5105), và Ahmad (3/306) số (14283), và được Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Abu Dawood (3/961).
(A 'u zdu bil la hi mi nash shây to nir ro jim). Ý nghĩa: Bề tôi cầu xin Allah che chở tránh khỏi Shaytan bị trục xuất!
112. Du'a cho người mà mình đã xúc phạm.
Nabi ﷺ nói: {Ol lo hum ma pha ây yu ma mu’ mi nin sa bấp tu hu, phaj ‘al zda li ka la hu cur ba tanh i lây ka dâu mal ci ya mah}[276]." Ý nghĩa: {Lạy Allah, bất cứ người Mumin nào đã bị bề tôi chửi, xin Ngài hãy thay đổi lời chửi đó thành vật dâng hiến của y dâng Ngài vào ngày phán xử.} [276] Al-Bukhari với Al-Fath (11/171) số (6361), và Muslim (4/2007) số (396), và lời Hadith của ông: {phaj 'al ha la hu za kah, wa roh mah} ý nghĩa: Xin Ngài hãy biến điều đó thành sự thanh lọc và hồng ân cho y.
113. Điều người Muslim nói khi được một Muslim khác khen ngợi.
Nabi ﷺ nói: {Nếu ai trong các người buộc phải khen ngợi người bạn của mình, thì hãy nói: Tôi nghĩ ông/bà [tên người đó] như vậy, và Allah mới là Đấng phán xét tối cao của người đó, tôi không dám khẳng định sự trong sạch của bất kỳ ai trước Allah. Tôi nghĩ người đó — nếu bản thân biết rõ như vậy — là người thế này thế kia.}[277]. [277] Muslim (4/2296), số (3000).
114. Người Muslim nói gì khi được ca ngợi
اللَّهُمَّ لَا تُؤَاخِذْنِي بِمَا يَقُولُونَ، وَاغْفِرْ لِي مَا لَا يَعْلَمُونَ، [وَاجْعَلْنِي خَيْرًا مِمَّا يَظُّنُّونَ][278]. [278] Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad số (761), và chuỗi truyền của nó được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad số (585), và phần nằm trong ngoặc vuông là phần bổ sung do Al-Baihaqi ghi trong Shu'ab Al-Iman (4/228) từ một đường truyền khác.
{Ol lo hum ma la tu a khizd ni bi ma ya cu lun, wagh fir li ma la ya’ la mun, waj ‘al ni khoi ron mim ma ya zhun nun}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin đừng bắt tội bề tôi với những gì họ nói, xin hãy tha thứ cho bề tôi những gì họ chưa biết, và hãy làm cho bề tôi tốt hơn những gì họ nghĩ.}
115. Cách người đang ở trong tình trạng Ihram đọc Talbiyah trong Hajj hoặc 'Umrah
{Lâp bây kol lo hum ma lâp bây ka, Lâp bây ka la sha ri ka la ka lắp bây ka, in nal hâm đa wanh ne’ ma ta la ka, wal mul ka, la sha ri ka lak}[279]. [279] Al-Bukhari với Al-Fath (3/408), số (1549), và Muslim (2/841), số (1184).
{Lâp bây kol lo hum ma lâp bây ka, Lâp bây ka la sha ri ka la ka lắp bây ka, in nal hâm đa wanh ne’ ma ta la ka, wal mul ka, la sha ri ka lak}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, bề tôi đã vâng lời Ngài, đã tuân lệnh Ngài, Ngài không có đối tác. Quả thực, tất cả mọi lời ca ngợi tán dương, mọi hồng ân và mọi uy quyền đều thuộc về Ngài, Đấng không có đối tác.}
116. Takbir khi đến Đá Đen.
{Nabi ﷺ ngồi trên con lạc đà đi Tawaf quanh ngôi đền Ka’bah và mỗi lần đến đá đen là Người dùng (gậy) chỉ về phía đá đen và takbir.}[280]. [280] Al-Bukhari với Al-Fath (3/476) số (1613), và ý nói 'vật' ở đây là: cây gậy đầu cong. Xem: Al-Bukhari với Al-Fath (3/472).
117. Du'a giữa góc Al-Yamani và Đá Đen.
{Rab ba na a ti na phiđ đun ya ha sa nah, wa phil a khi ro ti ha sa nah, wa ci na 'a zda banh nar}[281] [281] Abu Dawood (2/179) số (1894), và Ahmad (3/411) số (15398), và Al-Baghawi trong Sharh As-Sunnah (7/128), và được Al-Albani xếp loại Hasan trong Sahih Abu Dawood, (1/354), Surah Al-Baqarah [201].
{Rab ba na a ti na phiđ đun ya ha sa nah, wa phil a khi ro ti ha sa nah, wa ci na 'a zda banh nar}, (Ý nghĩa: Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài hãy ban cho bầy tôi mọi điều tốt đẹp ở trần gian này và mọi điều tốt đẹp ở Đời Sau; và xin Ngài hãy bảo vệ bầy tôi thoát khỏi hình phạt của Hỏa Ngục.)
118. Du'a khi đứng trên đồi Safa và đồi Marwah.
Khi Nabi ﷺ đến gần Safa, Người xướng đọc câu Kinh: إِنَّ الصَّفَا وَالْمَرْوَةَ مِنْ شَعَآئِرِ اللَّهِ...، أَبْدَأُ بِمَا بَدَأَ اللَّهُ بِهِ
{In nos so pha wal mar wa ta minh sha 'a i ril lah..., ấp đa u bi ma ba đa ol lo hu bi}, (Ý nghĩa: Hai ngọn núi Safa và Marwah là một trong các biểu hiệu của Allah ... Tôi khởi đầu bằng những gì Allah bắt đầu.) Bắt đầu từ đồi Safa, rồi bước lên đó cho đến khi nhìn thấy Ka'bah, hướng mặt về Qiblah, sau đó Tahlil và Takbir, rồi nói: لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ المُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ، لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ، أَنْجَزَ وَعْدَهُ، وَنَصَرَ عَبْدَهُ، وَهَزَمَ الأَحْزَابَ وَحْدَهُ،
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir; La i la ha il lol lo hu wah đah, anh ja za wa’ đah, wa na so ro ‘ấp đah, wa ha za mal ah za ba wah đah}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah duy nhất không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ. Không có Thượng Đế nào đích thực ngoại trừ Allah, lời giao ước của Allah giúp đỡ đám nô lệ của Ngài là thật và duy chỉ Ngài đã hủy diệt phe đảng (chống đối).} Sau đó, Người cầu xin giữa những lần đó, Người nói điều tương tự ba lần» Hadith. Và trong đó: Rồi Người đã làm trên Marwah giống như đã làm trên Safa [282]. [282] Muslim (2/888) số (1218) chương 2 - Al-Baqarah, câu 158.
119. Du'a ngày 'Arafah
Nabi ﷺ nói: {Du'a tốt nhất là Du'a ngày 'Arafah, và lời tốt nhất mà Ta và các vị Nabi trước Ta đã nói là: لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، لَهُ المُلْكُ وَلَهُ الحَمْدُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَيْءٍ قَدِيرٌ[283]. [283] At-Tirmizdi số (3585), được Al-Albani xác nhận Hasan trong Sahih At-Tirmizdi (3/184), và trong Silsilah Al-Ahadith As-Sahihah (4/6).
120. Tụng niệm tại Mash'ar Haram.
{Nabi ﷺ đã cưỡi con lạc đà Al-Qaswa' cho đến khi đến Al-Mash'ar Al-Haram, rồi Người hướng về Qiblah (cầu xin Ngài, Takbir, Tahlil và tuyên xưng sự Độc nhất của Ngài), Người vẫn tiếp tục đứng cho đến khi trời sáng hẳn, sau đó Người rời đi trước khi mặt trời mọc}[284]. [284] Muslim (2/891) số (1218).
121. Takbir khi ném trụ Jamarat cho mỗi viên đá.
Takbir mỗi khi ném một viên đá cuội tại ba trụ, sau đó tiến lên, đứng cầu xin Du'a hướng mặt về Qiblah, giơ hai tay lên sau khi ném trụ thứ nhất và trụ thứ hai, còn đối với trụ 'Aqabah thì ném đá vào trụ đó và Takbir cho mỗi viên đá rồi rời đi và không đứng lại ở đó»[285]. [285] Al-Bukhari với Al-Fath (3/583), số (1751), và xem lời văn ở đó. Và Al-Bukhari với Al-Fath (3/583), và (3/584), và (3/581), số (1753), và Muslim cũng ghi lại, số (1218).
122- Du'a khi thích thú và gặp điều vui mừng.
سُبْحَانَ اللَّهِ[286]. [286] Al-Bukhari với Al-Fath (1/210), (390) và (414) số (115), (3599) và (6218), và Muslim (4/1857) số (1674).
{Sub ha nol loh}, (Ý nghĩa: Allah hiển vinh)
{اللَّهُ أَكْبَرُ}[287]. [287] Al-Bukhari với Al-Fath (8/441) số (4741) và (3062), và At-Tirmizdi số (2180), và An-Nasa-i trong Al-kubra số (11185), và xem: Sahih At-Tirmizdi (2/103) và (2/235), và Musnad Ahmad (5/218) số (21900).
{Ol lo hu ak bar!}, (Ý nghĩa: Allah vĩ đại nhất)
123. Làm gì khi có được công việc thuận lợi
{Khi có một điều gì đó làm Người vui mừng hoặc mang lại niềm vui, Nabi ﷺ liền phủ phục quỳ lạy để tạ ơn Allah Hồng Phúc và Tối Cao.}[288]. [288] Ahlus Sunan ghi lại ngoại trừ An-Nasa-i': Abu Dawood ghi số (2774), và At-Tirmizdi ghi số (1578), và Ibnu Maajah ghi số (1394), xem Sahih Ibnu Maajah (1/233), và Irwa Al-Ghalil (2/226).
124. Những gì cần làm và nói khi cảm thấy đau trên cơ thể
{Hãy đặt tay lên chỗ đau và nói: بِسْمِ اللَّهِ
{Bis mil lah}, (ý nghĩa: Nhân danh Allah) Ba lần, và hãy nói thêm bảy lần: أَعُوذُ بِاللَّهِ وَقُدْرَتِهِ مِنْ شَرِّ مَا أَجِدُ وَأُحَاذِرُ[289]. [289] Muslim (4/1728) số (2202).
125. Du'a của người lo sợ ánh nhìn của mình có thể gây nguy hại
{Nếu một người trong các ngươi nhìn thấy điều gì từ người anh em đồng đạo hoặc từ ngoại hình hoặc từ tài sản làm cho mình ngạc nhiên [thì hãy cầu xin phúc lành cho người anh em đó]. Quả thực, cái nhìn nguy hại là sự thật.}[290]. [290] Musnad Ahmad (4/447), số (15700), và Ibnu Maajah, số (3508), và Malik (3/118-119), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Jami' (1/212), và xem thêm: bản hiệu đính Zad Al-Ma'ad của Al-Arnaut (4/170).
126. Những điều nên nói khi hoảng sợ
لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ[291]. [291] Al-Bukhari với Al-Fath (6/381) số (3346), và Muslim (4/2208) số (2880).
127. Những gì cần nói khi cắt tiết hoặc đâm yết hầu
{Bis mil lah, wol lo hu ak bar, ol lo hum ma min ka wa lak, ol lo hum ma ta cốp bal min ni}[292]. [292] Muslim (3/1557) số (1967), và Al-Bayhaqi (9/287) và phần nằm trong ngoặc vuông của Al-Bayhaqi (9/287) và những người khác, và câu cuối cùng tôi trích dẫn theo ý nghĩa từ lời thuật của Muslim.
{Bis mil lah, wol lo hu ak bar, ol lo hum ma min ka wa lak, ol lo hum ma ta cốp bal min ni}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, Đấng vĩ đại. Lạy Allah, (vật tế này) là do Ngài ban tặng và cũng là của Ngài. Lạy Allah, hãy chấp nhận (vật tế) của bề tôi.}
128. Những lời đọc để đẩy lùi âm mưu của Shaytan xấu xa.
أَعُوذُ بكَلِمَاتِ اللَّهِ التَّامَّاتِ الَّتِي لَا يُجَاوِزُهُنَّ بَرٌّ وَلَا فَاجِرٌ: مِنْ شَرِّ مَا خَلَقَ، وَبَرَأَ وَذَرَأَ، وَمِنْ شَرِّ مَا يَنْزِلُ مِنَ السَّمَاءِ، وَمِنْ شَرِّ مَا يَعْرُجُ فيهَا، وَمِنْ شَرِّ مَا ذَرَأَ فِي الأَرْضِ، وَمِنْ شَرِّ مَا يَخْرُجُ مِنْهَا، وَمِنْ شَرِّ فِتَنِ اللَّيْلِ وَالنَّهَارِ، وَمِنْ شَرِّ كُلِّ طَارِقٍ إِلَّا طَارِقًا يَطْرُقُ بِخَيْرٍ يَا رَحْمَنُ[293]. [293] Ahmad ghi (3/419), số (15461), với Isnad Sahih, và Ibn As-Sunni, số (637), và Al-Arna'ut xác thực Isnad Sahih trong Takhreej của ông cho At-Tahawiyyah (trang 133), và xem thêm: Majma' Az-Zawa'id (10/127).
{A ‘u zdu bi ka li ma til la hit tam mat, al la ti la yu ja wi zu hun na bar run, wa la fa ji run minh shar ri ma kho lắc, wa ba ro a wa zda ro a, wa minh shar ri ma yanh zi lu mi nas sa ma i, wa minh shar ri ma ya’ ru ju phi ha, wa minh shar ri ma zda ro a phil ar đhi, wa minh shar ri ma yakh ru ju minh ha, wa minh shar ri phi ta nil lây li wanh na har, wa minh shar ri kul li to ri cin il la to ri con yot ru cu bi khoi rin, ya roh man}. Ý nghĩa: {Bề tôi cầu xin những lời phán hoàn hảo của Allah mà không có điều tốt hay điều xấu nào vượt qua, tránh khỏi mọi điều xấu mà Ngài đã tạo, tránh mọi điều xấu được đưa xuống từ bầu trời và mọi điều bay lên trời, tránh khỏi mọi điều xấu có trên mặt đất và từ đất mọc lên, tránh mọi điều xấu làm cho mê muội vào ban ngày lẫn ban đêm và mọi điều xấu của những kẻ gỏ cửa (vào ban đêm) ngoại trừ ai gõ cửa mang lại điều lành, lạy Đấng Khoan Dung.}
129. Cầu xin tha thứ và sự sám hối
Thiên Sứ của Allah ﷺ nói: {Thề bởi Allah, quả thật Ta cầu xin Allah tha thứ và sám hối với Ngài nhiều hơn bảy mươi lần mỗi ngày.}[294]. [294] Al-Bukhari với Al-Fath (11/101) số (6307).
và Người ﷺ nói: {Hỡi mọi người, hãy sám hối với Allah, quả thật Ta sám hối với Ngài một trăm lần mỗi ngày.}[295]. [295] Muslim (4/2076) số (2702).
và Người ﷺ nói: «Bất cứ ai nói: {As tagh fi rul lo hal ‘a zhim, al la zdi la i la ha il la hu, al hây yul coi yum, wa a tu bu i lây hi}
{As tagh fi rul lo hal ‘a zhim, al la zdi la i la ha il la hu, al hây yul coi yum, wa a tu bu i lây hi}. Ý nghĩa: {Bề tôi cầu xin Allah tha tội, Ngài là Đấng Vĩ Đại, không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Ngài, Ngài là Đấng Sống Mãi, Đấng Bất Diệt. Bề tôi quay về sám hối với Ngài.} Allah sẽ tha thứ cho y, dẫu cho y đã từng đào ngũ.”[296]. [296] Abu Dawood (2/85) số (1517), và At-Tirmizdi (5/569) số (3577), và Al-Hakim xác thực là Sahih và Ad-Dhahabi đồng tình (1/511), và Al-Albani xác thực là Sahih, xem: Sahih At-Tirmizdi (3/182) và Jame' Al-Usul li Ahadith Ar-Rasul ﷺ (4/389-390) do Al-Arna-ut kiểm chứng.
và Người ﷺ nói: {Thời điểm Thượng Đế ở gần với người bề tôi nhất là vào lúc cuối đêm, vì vậy nếu ngươi có thể là một trong số những người tụng niệm Allah vào giờ đó thì hãy làm như vậy.}[297] [297] At-Tirmizdi, số (3579), và An-Nasa-i (1/279), số (572), và Al-Hakim (1/309), và xem: Sahih At-Tirmizdi (3/183), và Jami' Al-Usul bản thẩm định của Al-Arna'ut (4/144).
và Người ﷺ nói: {Khoảng cách gần nhất giữa người bề tôi và Thượng Đế của y là lúc y quỳ lạy, vì vậy, các ngươi hãy cầu xin thật nhiều!} [298]. [298] Muslim (1/350) số (482).
và Người ﷺ nói: {Chính, (sự lo lắng cho cộng đồng) làm cho con tim Ta quên lãng việc (tụng niệm Allah), và Ta quay về sám hối với Allah một trăm lần trong ngày.}[299]. [299] Muslim ghi (4/2075), số (2702), Ibnu Al-Athir nói: {Chính, (sự lo lắng cho cộng đồng) làm cho con tim Ta}, nghĩa là bị che lấp và bao phủ, và ý muốn nói ở đây là: sự xao lãng; bởi vì Người ﷺ luôn không ngừng gia tăng việc tụng niệm, sự gần gũi và liên tục duy trì sự ý thức, nên mỗi khi Người xao lãng những điều đó trong một vài khoảnh khắc, hoặc quên đi, Người tự coi đó là một tội lỗi đối với bản thân, nên Người liền vội vã cầu xin sự tha thứ. Xem: quyển Jami' Al-Usul (4/386).
130. Giá trị của Tasbih, Tahmid, Tahlil và Takbir
Nabi ﷺ nói: {Bất cứ ai nói: سُبْحَانَ اللَّهِ وَبِحَمْدِهِ
{Sub ha nol lo hi wa bi hâm đi hi}. (Ý nghĩa: Vinh quang thay Allah và mọi lời ca ngợi và tán dương đều thuộc về Ngài.) một trăm lần trong ngày, các tội lỗi của y sẽ được xóa cho dù chúng có nhiều như bọt biển} [300]. [300] Al-Bukhari (7/168), số (6405), và Muslim (4/2071), số (2691), và xem: Ân phước của người đọc nó một trăm lần vào buổi sáng và buổi tối (trang 65) của quyển sách này.
và Người ﷺ nói: {Bất cứ ai nói: {La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka la hu, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir}
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka la hu, la hul mul cu, wa la hul hâm đu, wa hu wa ‘a la kul li shây in co đir}. (Ý nghĩa: Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác, mọi quyền thống trị, mọi lời ca ngợi đều thuộc về Ngài và Ngài toàn năng trên tất cả mọi thứ.) mười lần, thì người đó giống như người đã giải phóng bốn người nô lệ thuộc con cháu của Nabi Isma'el}[301]. [301] Al-Bukhari (7/67) số (6404), và Muslim với nguyên văn (4/2071) số (2693) và xem: ân phước của người đọc nó một trăm lần trong ngày. Du'a số (93) (trang 66) của cuốn sách này.
và Người ﷺ nói: {Hai lời nói nhẹ nhàng trên chiếc lưỡi, có trọng lượng trong chiếc cân, và được Đấng Ar-Rahman yêu thích: سُبْحَانَ اللَّهِ وَبِحَمْدِهِ، سُبْحانَ اللَّهِ العَظِيمِ[302]. [302] Al-Bukhari, 7/168, số (6404), và Muslim, 4/2072, số (2694).
{Sub ha nol lo hi wa bi hâm đi hi; Sub ha nol lo hil ‘a zhim}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah, Ngài vĩ đại nhất}
và Người ﷺ nói: {Việc Ta nói: سُبْحَانَ اللَّهِ، وَالحَمْدُ لِلَّهِ، وَلَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ، وَاللَّهُ أَكْبَرُ
{SuB ha nol loh, wal hâm đu lil lah, wa la i la ha il lol loh, wol lo hu ak bar}. (Ý nghĩa: Vinh quang thay Allah, xin tạ ơn Allah, không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, và Allah vĩ đại nhất.) là điều yêu thích đối với Ta hơn những gì mà mặt trời soi rọi sau khi mọc lên}[303]. [303] Muslim (4/2072) số (2695).
và Người ﷺ nói: {Một trong các người không thể kiếm được một ngàn điều phước mỗi ngày sao?} Một trong các Sahabah của Người đã hỏi Người: Làm thế nào một trong chúng tôi có thể kiếm được một ngàn điều phước chứ? Người ﷺ nói: {Người đó Tasbih một trăm lần thì một ngàn điều phước sẽ được ghi cho y, hoặc một ngàn tội lỗi sẽ được xóa khỏi y.}[304] [304] Muslim (4/2073) số (2698).
{Sub ha nol loh} - {Vinh quang thay Allah}
{Bất cứ ai nói: {Sup ha nol lo hil ‘a zhim, wa bi hâm đi hi}
{Sup ha nol lo hil ‘a zhim, wa bi hâm đi hi}.Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah, Đấng Vĩ Đại và mọi lời ca ngợi và tán dương đều thuộc về Ngài.} một cây chà là sẽ được trồng cho người đó trong Thiên Đàng}[305]. [305] At-Tirmizdi ghi (5/511), số (3464), và Al-Hakim ghi (1/501), xác thực Sahih và được Adh-Dhahabi đồng tình, và xem: Sahih Al-Jami' (5/531), và Sahih At-Tirmizdi (3/160).
và Người ﷺ nói: {Hỡi 'Abdullah bin Qais, anh có muốn Ta chỉ cho anh một trong những kho báu của Thiên Đàng không?} Tôi nói: Vâng, thưa Thiên Sứ của Allah. Người nói: {Hãy nói: لَا حَوْلَ وَلَا قُوَّةَ إِلَّا بِاللَّهِ[306]. [306] Al-Bukhari với Al-Fath (11/213) số (4206), và Muslim (4/2076) số (2704).
và Người ﷺ nói: {Lời được yêu thương nhất đối với Allah có bốn: {Sub ha nol loh, wal hâm đu lil lah, wa La i la ha il lol loh, wol lo hu ak bar}
{Sub ha nol loh, wal hâm đu lil lah, wa La i la ha il lol loh, wol lo hu ak bar}. (Ý nghĩa: Allah hiển vinh, tạ ơn Allah, không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Allah, Allah vĩ đại nhất) Bắt đầu với lời nào cũng được.[307]. [307] Muslim (3/1685), số (2137).
Một người đàn ông du mục đến gặp Thiên Sứ của Allah, ﷺ và nói: Hãy dạy tôi điều gì đó để tôi nói. Người ﷺ nói: {Hãy nói: لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ، اللَّهُ أَكْبَرُ كَبِيرًا، وَالحَمْدُ لِلَّهِ كَثِيرًا، سُبْحَانَ اللَّهِ رَبِّ العَالَمِينَ، لَا حَوْلَ وَلَا قُوَّةَ إِلَّا بِاللَّهِ العَزِيزِ الحَكِيمِ
{La i la ha il lol lo hu wah đa hu la sha ri ka la hu, ol lo hu ak bar ka bi ro, wal hâm đu lil lah ka thi ro, súp ha nol lo hi rấp bil ‘a la min, La hâu la wa la cu wa ta il la bil la hil ‘a zi zil ha kim}. Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah duy nhất, Đấng không có đối tác, Allah vĩ đại nhất, mọi lời ca ngợi, tán dương đều kính dâng Ngài; Vinh quang thay Allah Đấng Chúa Tể của vũ trụ; không có sự chuyển động, sức mạnh nào ngoại trừ Allah, Đấng Hùng Mạnh, Đấng Sáng Suốt muốn chuyển động.} Người đó nói: Những điều này dành cho Thượng Đế của tôi, vậy phần của tôi là gì? Người ﷺ nói: {Hãy nói: اللَّهُمَّ اغْفِرْ لِي، وَارْحَمْنِي، وَاهْدِنِي، وَارْزُقْنِي[308]. [308] Muslim (4/ 2072) số (2696) và Abu Dawood (1/ 220) số (832) ghi thêm: Khi người du mục Ả-rập kia quay đi, Nabi ﷺ nói: {Quả thật y đã lấp đầy bàn tay của mình bằng điều tốt lành.}
{Ol lo hum mứ phir li, war hâm ni, wah đi ni, war zúc ni}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy tha thứ tội lỗi cho bề tôi, xin hãy thương xót bề tôi, xin hãy dẫn dắt bề tôi và xin hãy ban bổng lộc cho bề tôi.}
Khi một người đàn ông theo Islam, Nabi ﷺ thường dạy cho anh ta lễ nguyện Salah, sau đó Người bảo anh ta cầu xin với những lời này: اللَّهُمَّ اغْفِرِ لِي، وَارْحَمْنِي، وَاهْدِنِي، وَعَافِنِي وَارْزُقْنِي[309]. [309] Muslim (4/ 2073), số (3697), và cũng trong một lời thuật của y: {Quả thật, những lời này bao gồm cho ngươi cả trần thế lẫn Đời Sau của ngươi.}
{Ol lo hum magh Fir li, war hâm ni, wah đi ni, wa ‘a fi ni, war zuq ni}. Ý nghĩa: {Lạy Allah, xin hãy tha thứ cho bề tôi, hãy thương xót bề tôi, hãy dẫn dắt bề tôi, hãy ban cho bề tôi sự khỏe mạnh, và hãy ban cho bề tôi bổng lộc.}
{Quả thật, lời Du'a tốt nhất là الحَمْدُ لِلَّهِ
{Al hâm đu lil lah} - {Mọi lời ca ngợi và tán dương kính dâng Allah} Và lời tụng niệm tốt nhất là لَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ[310]. [310] At-Tirmizdi (5/462), số (3383), và Ibnu Majah (2/1249), số (3800), và Al-Hakim (1/503), xác thực Sahih và được Az-Zahabi đồng tình, và xem: Sahih Al-Jami'a (1/362).
{Những việc thiện tốt còn mãi: سُبْحَانَ اللَّهِ، وَالحَمْدُ لِلَّهِ، وَلَا إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ، وَاللَّهُ أَكْبَرُ، وَلَا حَوْلَ وَلَا قُوَّةَ إِلَّا بِاللَّه[311]. [311] Ahmad ghi số (513) theo sự sắp xếp của Ahmad Shakir, và xem thêm: Majma' Az-Zawa'id (1/297), và được Ibn Hajar quy nguồn trong Bulugh Al-Maram từ lời thuật của Abu Sa'id cho An-Nasa-i [trong Al-Kubra], số (10617) và nói: được Ibn Hibban xác thực Sahih, số (840), và Al-Hakim (1/541).
{Sub ha nol loh, wal hâm đu lil lah, wa la i la ha il lol loh, wol lo hu ak bar, wa la hâu la wa la cu wa ta il la bil lah}. Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah, xin tạ ơn Allah, không có Thượng Đế đích thực nào ngoại trừ Allah, và Allah vĩ đại nhất, và không có quyền năng hay quyền thống trị nào ngoài quyền năng và quyền thống trị của Allah.}
131. Nabi ﷺ thường tụng niệm như thế nào?
Ông 'Abdullah bin 'Amru - cầu xin Allah hài lòng về ông - thuật lại: {Tôi đã thấy Nabi ﷺ đếm lần Tasbih bằng tay} và trong một phần bổ sung: {bằng tay phải của Người.}[312]. [312] Do Abu Dawood ghi nguyên văn (2/81, số 1502), At-Tirmizdi ghi (5/521, số 3486), và xem: Sahih Al-Jami'a (4/271, số 4865), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Sunan Abu Dawood số (1/411).
132. Một số việc thiện và lễ nghĩa toàn diện
Nabi ﷺ nói: {Khi màn đêm buông xuống – hoặc khi các ngươi bước vào buổi tối – thì hãy giữ con cái của các ngươi lại (trong nhà), bởi vì những Shaytan sẽ tản ra vào lúc đó. Khi một khoảng thời gian của ban đêm đã trôi qua thì hãy để chúng tự do, và hãy đóng các cánh cửa lại và nhân danh Allah (tức nói Bismillah); bởi vì Shaytan không thể mở một cánh cửa đã đóng. Và hãy buộc chặt các túi da của các ngươi và nhân danh Allah (tức nói Bismillah), và hãy đậy kín các bình chứa của các ngươi và nhân danh Allah (tức nói Bismillah), cho dù chỉ là đặt ngang lên trên nó một vật gì đó, và hãy tắt các ngọn đèn của các ngươi.}[313] [313] Al-Bukhari với Al-Fath, 10/88, số (5623), và Muslim, 3/1595, số (2012).
Cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Nabi của chúng ta Muhammad, cho gia quyến của Người cùng tất cả các bạn đồng hành của Người.
Related books
All books
Các lời tụng niệm nên nói vào mỗi sáng và mỗi chiều57 ngôn ngữCác lời tụng niệm nên nói vào mỗi sáng và mỗi chiều
Bis mil la hir roh ma nir ro him (Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung) Ol lo hu la i la il la hu wal hây dul qoi duôm, la tá khu zdu hu si na tu wa la nâum, la hu ma fis sa ma wa ti wa ma fil ard, manh zdal la zdi dash fa u in đa hu il la bi izd ni hi, da' la mu ma bây na ây đi him wa ma khol fa hum, wa la du hi tu na bi shây im min il mi hi il la mi ma sha a, wa si 'a kur si du hus sa ma wa ti wal ard, wa la da u đu hu hif zhu hu ma wa hu wal 'a li dul 'a zh.ĩ.m. (Allah (là Thượng Đế), không có Thượng Đế (đích thực) nào ngoài Ngài, Đấng Hằng Sống, Đấng Bất Diệt, Ngài không ngủ và…
Tóm Tắt Hữu Ích Cho Người Muslim54 ngôn ngữTóm Tắt Hữu Ích Cho Người Muslim
Cuốn sách này đề cập đến những nguyên tắc cơ bản của tôn giáo Islam một cách ngắn gọn và toàn diện, trình bày rõ cho người đọc nền tảng của sự thờ phượng đúng đắn và ý nghĩa của đức tin Iman vào Allah, các Thiên Thần của Ngài, các Kinh Sách của Ngài, các Thiên Sứ của Ngài, Ngày Phán Xét và sự Tiền Định. Cuốn sách này bắt đầu bằng cách trình bày về những phước lành của Islam và tầm quan trọng của việc nhận biết về Allah, các thuộc tính của Ngài và các tên tốt đẹp của Ngài. Sau đó, nó chuyển sang nói về năm trụ cột của Islam và các trụ cột đức tin Iman. Nó cũng thảo luận về khái niệm Ehsan và…
Tín ngưỡng đúng đắn và những gì trái ngược với nó48 ngôn ngữTín ngưỡng đúng đắn và những gì trái ngược với nó
Biên soạn Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung Lời Mở Đầu Alhamdulillah, xin tạ ơn một mình Allah, và cầu xin điều tốt đẹp cũng như sự bình an đến vị Nabi cuối cùng, đến gia quyến của Người cùng các vị Sahabah của Người.
Du'a và cách chữa trị bằng Ruqyah từ Qur'an và Sunnah.19 ngôn ngữDu'a và cách chữa trị bằng Ruqyah từ Qur'an và Sunnah.
Biên soạn Kẻ cần đến Allah Tối Cao Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung