الدعاء ويليه العلاج بالرقى من الكتاب والسنة
Du'a và cách chữa trị bằng Ruqyah từ Qur'an và Sunnah.
Du'a và cách chữa trị bằng Ruqyah từ Qur'an và Sunnah.
Các lời Du'a từ Qur'an và Sunnah
Biên soạn
Kẻ cần đến Allah Tối Cao Dr. Sa'ed bin Ali bin Wahf Al-Qahtani
{Allah có các tên gọi tốt đẹp nhất, bởi thế, các ngươi hãy cầu nguyện Ngài với những tên gọi đó. Các ngươi hãy mặc kệ những kẻ bóp méo các tên gọi của Ngài, rồi đây chúng sẽ nhận lấy hậu quả cho những điều chúng làm.} (chương 7 - Al-‘Araf, câu: 180).
Allah - Al-Auwal (Đấng Đầu Tiên - không có gì tồn tại trước Ngài) - Al-Akhir (Đấng Cuối Cùng - không có gì tồn tại sau Ngài, mọi thứ đều diệt vong, chỉ một mình Ngài còn mãi) - Al-Zhahir (Đấng Hiển Lộ qua các dấu hiệu của Ngài, không gì che khuất Ngài) - Al-Batin (Đấng Ẩn kín thâm sâu, bao trùm nội tại) - Al-Ali (Đấng Tối Cao - vượt trên mọi thứ về bản thể) - Al'Ala (Đấng Tối Thượng so với mọi thứ khác).
Al-Muta'al (Đấng Bên Trên), Al-'Azhim (Đấng Vĩ Đại), Al-Majid (Đấng Vinh Quang), Al-Kabir (Đấng To Lớn), As-Sami' (Đấng Hằng Nghe), Al-Basir (Đấng Hằng Thấy), Al-'Alim (Đấng Toàn Tri)
Al-Khabir (Đấng Thông Toàn), Al-Hamid (Đấng Đáng Ca Tụng), Al-'Aziz (Đấng Hùng Mạnh), Al-Qadir (Đấng Toàn Năng), Al-Qaadir (Đấng Quyền Năng), Al-Muqtadir (Đấng Toàn Quyền), Al-Qawi (Đấng Toàn Lực).
Al-Matin (Đấng Hùng Mạnh), Al-Ghani (Đấng Giàu Có, Đấng Miễn Cần), Al-Hakim (Đấng Sáng Suốt), Al-Halim (Đấng Chịu Đựng), Al-'Afu (Đấng Xí Xóa), Al-Ghafur - Al-Ghaffar (Đấng Hằng Tha Thứ).
At-Tawwab (Đấng chấp nhận sám hối), Ar-Raqib (Đấng Giám Sát), Ash-Shahid (Đấng Chứng Giám), Al-Hafiz (Đấng Hộ Trì), Al-Latif (Đấng Tinh Tế), Al-Qarib (Đấng Gần Gũi), Al-Mujib (Đấng Đáp Lời cầu xin).
Al-Wadud (Đấng Yêu Thương), Ash-Shakir (Đấng Ghi Nhận), Ash-Shakur (Đấng Hằng Tri Ân), As-Sayyid (Đấng Chủ Nhân), Os-Somad (Đấng Tự Hữu), Al-Qahir (Đấng Chế Ngự), Al-Qahhar (Đấng Toàn Thắng).
Al-Jabbar (Đấng Không Thể Cưỡng Lại), Al-Hasib (Đấng Phán Xét), Al-Hadi (Đấng Hướng Dẫn), Al-Hakam (Đấng Phân Xử), Al-Quddus (Đấng tuyệt ối thanh khiết, hoàn toàn không có khiếm khuyết), As-Salam (Đấng Bằng An), Al-Barr (Đấng Nhân Hậu - nhấn mạnh hành động ban điều tốt và ân huệ thực tế).
Al-Wahhab (Đấng Ban Bố), Ar-Rahman (Đấng Độ Lượng), Ar-Rahim (Đấng Khoan Dung), Al-Karim (Đấng Quảng Đại), Al-Akram (Đấng Rộng Rãi Nhất), Ar-Ra'uf (Đấng Nhân Ái), Al-Fattah (Đấng Khai Mở và Phân Xử Tuyệt Đối - mở mọi cánh cửa ân huệ và đưa ra phán quyết công minh.)
Ar-Raziq (Đấng Cấp Dưỡng), Ar-Razzaq (Đấng Ban Phát), Al-Hayy (Đấng Hằng Sống), Al-Qaiyum (Đấng Tự Hữu và Nuôi Dưỡng Vạn Vật), Ar-Rabb (Thượng Đế, Đấng Chủ Tể), Al-Malik (Đức Vua), Al-Mali-k (Đấng Vương Quyền).
Al-Wahid (Đấng Duy Nhất) - Al-Ahad (Đấng Độc Nhất) – Al-Mutakabbir (Đấng Tối Cao) - Al-Khaliq (Đấng Tạo Hóa) - Al-Khallaq – Al-Bari' (Đấng Sáng Tạo) - Al-Musawwir (Đấng Tạo Dựng Hình Thể)
Al-Mu'min (Đấng An Ninh), Al-Muhaymin (Đấng Giám Sát), Al-Muhit (Đấng Bao Quát), Al-Muqit (Đấng Nuôi Dưỡng), Al-Wakil (Đấng được Phó Thác), Al-Kafi (Đấng Đầy Đủ), Al-Wasi' (Đấng Bao La).
Al-Haqq (Đấng Chân Lý), Al-Jamil (Đấng Mỹ Lệ), Ar-Rafiq (Đấng Dịu Dàng), Al-Hayyi (Đấng E Lệ), As-Sittir (Đấng Che Chở), Al-Ilah (Đấng Thần Linh), Al-Qabid (Đấng Thu Hồi).
Al-Basit (Đấng Nới Rộng) – Al-Mu'ti (Đấng Ban Bố) – Al-Muqaddim (Đấng ưu tiên và tôn cao điều gì Ngài muốn) – Al-Mu'akhkhir (Đấng làm chậm lại hoặc đẩy lùi điều gì Ngài muốn) – Al-Mubin (Đấng Hiển Nhiên) – Al-Mannan (Đấng Ban Tặng) – Al-Wali (Đấng Bảo Hộ - nhấn mạnh sự gần gũi và bảo vệ đặc biệt)
Al-Mawla (Đấng Bảo Hộ - nhấn mạnh quyền làm Chủ và bảo hộ tối cao), Annasir (Đấng ban sự thắng lợi), Ash-Shafi (Đấng Chữa Lành), Malik Al-Mulk (Đấng Chủ Tể của mọi vương quyền), Jami'u Annas (Đấng triệu tập nhân loại)
Ánh Sáng của các tầng trời và trái đất - Đấng sở hữu Quyền Uy và Vinh Quang - Đấng Sáng Tạo các tầng trời và trái đất[1] [1] Xem các danh xưng này cùng với các bằng chứng từ Qur’an và Sunnah trong quyển sách: (Giảng giải các đại danh xưng hoàn mỹ của Allah theo Qur'an và Sunnah)... của tác giả.
Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung
Lời Mở Đầu
Alhamdulillah, mọi lời ca ngợi và tán dương kính dâng Allah), bầy tôi xin tạ ơn Ngài, thành tâm cầu xin Ngài giúp đỡ và tha thứ. Khẩn cầu Allah che chở tránh khỏi mọi điều xấu xa xuất phát từ bản thân của bầy tôi và trong mọi việc làm của bầy tôi. Ai được Allah dẫn dắt thì không ai có thể làm cho y lầm lạc, và ai bị Ngài bỏ mặc cho lầm lạc thì không ai có thể hướng dẫn được y. Bề tôi chứng nhận không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Allah, Đấng duy nhất không có đối tác cùng Ngài, và bề tôi chứng nhận Muhammad là người bề tôi và là Thiên Sứ của Ngài. Cầu xin Allah ban phúc lành và bình an thật nhiều cho Người, cho gia quyến của Người, các bạn đạo của Người và những ai noi theo họ một cách tốt đẹp cho đến Ngày Phán Xét.
Đây là bản tóm lược từ quyển sách của tôi ((Tưởng Niệm, Cầu Xin và Chữa Trị bằng Ruqyah từ Kinh Qur'an và Sunnah))[2], trong đó tôi tóm tắt lại phần Du'a cho dễ tiếp thu, đồng thời bổ sung thêm nhiều lời Du'a và những kiến thức bổ ích, nếu Allah, Đấng Tối Cao, muốn. Với các đại danh hoàn mỹ và các thuộc tính tối cao của Allah - Đấng Toàn Năng, Đấng Oai Nghiêm - tôi cầu xin Ngài biến nó thành một hành động hoàn toàn vì Ngài, bởi quả thật Ngài là Đấng quản lý điều đó và Ngài toàn năng về điều đó. [2] Bản gốc đã in ấn, Alhamdulillah, kèm theo việc thẩm tra và dẫn xuất các Hadith một cách mở rộng, trong bốn tập: "Al-Azkar" - Những lời tụng niệm ((Hisnul Muslim)) trong tập một và hai, "Du'a" trong tập ba, và "Chữa bệnh bằng Ruqyah" trong tập bốn.
Cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Nabi của chúng ta Muhammad, cho gia quyến của Người, cho các bạn đồng hành của Người và cho những người noi theo Người trong sự chính trực cho đến Ngày Phán Xét.
Biên soạn Sa'eed bin 'Ali bin Wahf Al-Qahtani
Tháng Sha'ban, năm 1408 A.H.
Ân phúc của Du'a (cầu nguyện, khấn xin)
Allah Tối Cao phán: {Thượng Đế của các ngươi phán: “Các ngươi hãy cầu nguyện TA, TA sẽ đáp lại các ngươi. Riêng những kẻ tự cao tự đại không chịu thờ phượng TA, họ chắc chắn sẽ vào Hỏa Ngục một cách đáng khinh.”} (chương 40 - Ghafir, câu: 60), Và Đấng Toàn Năng phán: {Và khi bầy tôi của TA hỏi Ngươi (hỡi Thiên Sứ) về TA thì Ngươi hãy bảo họ rằng quả thật TA ở rất gần, TA luôn đáp lại lời cầu xin của ai cầu xin TA. Do đó, họ hãy đáp lại (lời gọi của) TA và hãy tin nơi TA, mong rằng họ được hướng dẫn đúng đường.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu: 186). Và Nabi ﷺ đã nói: "Cầu nguyện khấn vái là sự thờ phượng, Thượng Đế của các ngươi phán: 'Các ngươi hãy cầu nguyện TA, TA sẽ đáp lại các ngươi'."[3] , Và Người ﷺ nói: "Quả thật, Thượng Đế của các ngươi, Đấng Hồng Phúc và Tối Cao, là Đấng E Thẹn và Rộng Lượng, Ngài cảm thấy xấu hổ khi người bề tôi của Ngài ngửa đôi bàn tay lên cầu xin Ngài mà Ngài không đáp lại bất cứ gì."[4] , Và Người ﷺ nói: "Bất cứ người Muslim nào cầu xin với lời cầu xin không chứa đựng tội lỗi hoặc không cắt đứt mối quan hệ thân tình, Allah sẽ ban cho người đó một trong ba điều: Hoặc lời cầu xin của y sẽ trở thành hiện thực, hoặc nó sẽ được tích trữ ân phước cho y ở Đời Sau, hoặc điều xấu sẽ được xua tan khỏi y.} Các Sahabah nói: Vậy thì chúng tôi sẽ cầu nguyện thật nhiều? Người ﷺ nói: {Allah (đáp lại) nhiều hơn thế}."[5]. [3] Abu Dawood, 2/ 78, số (1481), và At-Tirmizdi, 5/ 211, số (2959), và Ibnu Maajah, 2/ 1258, số (3828), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Jami' As-Saghir, 3/ 150, và trong Sahih Ibnu Maajah, 2/ 324. [4] Do Abu Dawood ghi (2/78, số 1488), At-Tirmizdi ghi (5/557, số 3556), và Ibnu Majah ghi (2/1271, số 3865), Ibnu Hajar nói: ((đường truyền tốt)), và Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 3/179. [5] At-Tirmizdi ghi (5/ 566, 5/462), số 3573, và Ahmad ghi (3/18), số 11150, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Jami' As-Saghir (5/116), và Sahih Sunan At-Tirmizdi (3/140).
Trong số các lễ nghĩa của Du'a và những nguyên nhân để lời Du'a được chấp nhận[6]: [6] Xem các phép tắc này và các nguyên nhân lời cầu xin được đáp lại cùng với các bằng chứng của chúng trong tác phẩm gốc, 3/927-975.
1. Thành tâm vì Allah.
2- Bắt đầu bằng lời tán dương và ca ngợi Allah, sau đó Salawat cho Nabi ﷺ và kết thúc với Salawat cho Người.
3- Sự quả quyết trong lời Du'a, và niềm tin chắc chắn vào sự đáp lại.
4- Kiên trì trong Du'a và không nóng vội.
5- Sự hiện diện của trái tim trong Du'a.
6- Du'a trong lúc phồn thịnh và gian nan.
7- Chỉ Du'a đến một mình Allah.
8- Tránh Du'a điều xấu cho gia đình, tài sản, con cái, và bản thân.
9- Du'a nhỏ tiếng, không quá thầm và không quá lớn tiếng.
10. Thừa nhận tội lỗi, cầu xin tha thứ, thừa nhận phước lành, và tạ ơn Allah.
11- Không cầu kỳ gieo vần trong lời Du'a.
12- Khẩn khoản, khiêm cung, mong mỏi và kính sợ.
13- Trả lại những bất công (cho chủ thể hoặc tổ chức bị đối xử bất công) cùng với sự sám hối.
14- Lặp lại lời Du'a ba lần.
15- Hướng mặt về Qiblah.
16- Giơ hai tay lên trong lúc Du'a.
17- Làm Wudu' trước khi Du'a nếu không trở ngại.
18- Không vượt quá giới hạn trong Du'a.
19- Bắt đầu Du'a cho bản thân mình trước tiên khi Du'a cho người khác[7]. [7] Đã được xác thực từ Nabi ﷺ về việc Người đã bắt đầu Du'a cho chính mình, và cũng được xác thực về việc Người không bắt đầu cho chính mình, như trong lời Du'a của Người cho Anas, Ibn Abbas, Ummu Isma'il, và những người khác. Xem chi tiết về vấn đề này trong: Lời giải thích Sahih Muslim của Al-Nawawi, 15/144, Tuhfatul Ahwadhi, lời giải thích Sunan Al-Tirmidhi, 9/328, và Fathul Bari, lời giải thích Sahih Al-Bukhari, 1/281.
20- Du'a Allah bằng các Đại Danh tốt đẹp và các thuộc tính cao cả của Ngài, hoặc bằng một việc làm ngoan đạo mà chính người Du'a đã thực hiện, hoặc bằng lời Du'a của một người ngoan đạo còn sống và đang hiện diện.
21- Thức ăn, đồ uống và quần áo phải từ nguồn Halal.
22- Không Du'a điều tội lỗi hoặc cắt đứt tình thân.
23- Bảo ban điều thiện và ngăn cản điều xấu.
24- Tránh xa tất cả những điều tội lỗi.
Các thời khắc, hoàn cảnh và nơi chốn Du'a được chấp nhận[8]: [8] Xem chi tiết các thời điểm, hoàn cảnh, nơi chốn này và bằng chứng của chúng trong (Al-Asl), quyển 3, trang 975-1117.
1- Đêm Định Mệnh Al-Qadr.
2- Lúc đêm khuya gần về sáng.
3- Sau các lễ nguyện Salah bắt buộc.
4- Trong khoảng thời gian giữa Azdan và Iqamah.
5. Một giờ trong mỗi đêm.
6- Khi Azdan cho các lễ nguyện Salah bắt buộc.
7- Khi trời đổ mưa.
8- Khi các hàng quân tiến lên vì con đường của Allah.
9- Một thời khắc trong ngày thứ sáu.
Và ý kiến được cho là đúng nhất về nó là giờ khắc cuối cùng của buổi xế chiều ngày thứ Sáu, và cũng có thể là khoảng thời gian của bài thuyết giảng và hành lễ Salah.
10- Khi uống nước Zamzam với ý nguyện thành tâm.
11- Trong lúc cuối đầu quỳ lạy.
12- Khi thức giấc vào ban đêm, và cầu xin bằng lời Du'a được truyền lại.
13- Khi ngủ trong tình trạng thanh sạch rồi thức dậy vào ban đêm và cầu xin.
14. Khi cầu xin bằng lời: La i la ha il la an ta, sub ha na ka, in ni kun tu mi nozh zho li min - (Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài; Quang vinh thay Ngài! Bề tôi thực sự đã sai quấy.)
15- Du'a của mọi người ngay sau khi một người qua đời.
16- Du'a sau khi tán dương Allah và Salawat cho Nabi ﷺ trong Tashahhud cuối cùng.
17- Khi u'a Allah bằng Đại Danh của Ngài, bởi khi được du'a bằng Đại Danh đó thì Ngài sẽ đáp lại, và khi cầu xin bởi đại danh đó thì Ngài sẽ ban cho.(9) [9] Xem danh xưng vĩ đại nhất của Allah trong Hadith số 203, số 104 và số 105 của quyển sách này.
18- Lời du'a của người Muslim cho người anh em Muslim của mình khi anh ta vắng mặt.
19- Du'a ngày Arafah tại Arafah.
20- Du'a trong tháng Ramadan.
21- Khi người Muslim tụ họp trong các buổi tụng niệm.
22- Khi du'a lúc gặp tai ương với: “In na lil la hi qua in na i lây hi ro ji 'un, ol lo hum ma a jur ni phi mu si ba ti qua akh lif li khoi ron min ha.” (Quả thật, bầy tôi thuộc về Allah và bầy tôi phải quay về với Ngài. Lạy Allah, xin Ngài ban thưởng cho bề tôi trong tai ương này của bề tôi, và xin Ngài ban cho bề tôi thứ khác tốt hơn nó).
23- Du'a khi trái tim hướng về Allah, và sự thành tâm trở nên mãnh liệt.
24- Du'a của người bị đối xử bất công chống lại kẻ đã bất công với mình.
25- Du'a của cha cho con, và chống lại con.
26- Du'a của khách lữ hành.
27- Du'a của người nhịn chay cho đến khi xả chay.
28- Du'a của người nhịn chay trước lúc xả chay.
29- Du'a của người gặp nguy khốn.
30- Du'a của vị Imam công bằng.
31- Du'a của người con hiếu thảo cho cha mẹ mình.
32- Du'a sau Wudu' nếu người đó du'a bằng lời được truyền lại (từ Sunnah) trong vấn đề đó.
33- Du'a sau khi ném trụ Jamarat nhỏ.
34- Du'a sau khi ném trụ Jamarat giữa.
35- Du'a bên trong Ka'bah, và ai hành lễ Salah bên trong Hijr Isma'il thì nơi đó là một phần của ngôi đền Ka'bah.
36- Du'a trên đồi Safa.
37- Du'a trên đồi Marwah.
38- Du'a tại Mash'ar Haram.
Và người có đức tin luôn cầu xin Thượng Đế của mình ở bất cứ đâu, Allah, Đấng Quyền Năng và Tối Cao phán: {Và khi bầy tôi của TA hỏi Ngươi (hỡi Thiên Sứ) về TA thì Ngươi hãy bảo họ rằng quả thật TA ở rất gần, TA luôn đáp lại lời cầu xin của ai cầu xin TA. Do đó, họ hãy đáp lại (lời gọi của) TA và hãy tin nơi TA, mong rằng họ được hướng dẫn đúng đường.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu: 186). Nhưng những thời điểm, hoàn cảnh và nơi chốn này được dành cho sự quan tâm đặc biệt hơn.
Các lời Du'a từ Qur'an và Sunnah
Alhamdulillah, xin tạ ơn một mình Allah, và cầu xin điều tốt đẹp cũng như sự bình an đến vị Nabi cuối cùng.
1- {Bis mil lah ar roh ma nir ro him - Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung * Al ham đu lil la hi rab bil a la min - xin tạ ơn, ca ngợi và tán dương Allah, Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.* Ar roh ma nir ro him - Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung * Ma li ki dâu miđ đin - Đấng Toàn Quyền của Ngày Thưởng Phạt * I-da ka na' bu đu wa i-da ka nas ta in - Duy chỉ Ngài bầy tôi thờ phượng và duy chỉ Ngài bầy tôi cầu xin phù hộ và trợ giúp.* Ih đi nos si ro tol mus ta qim - Xin Ngài hướng dẫn bầy tôi đến với con đường ngay chính,* Si ro tol la zdi na an âm ta a lây him, ghoi ril magh đu bi a lây him wa lođ đo-l lin - Con đường của những người đã được Ngài ban cho ân huệ, không phải con đường của những kẻ đã bị Ngài giận dữ và cũng không phải con đường của những kẻ lạc lối.} chương Al-Fatihah, các câu từ 1-7.
{Rab ba na ta qab bal min na in na ka an tas sa mi ul a lim - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài chấp nhận việc làm này của bầy tôi, bởi vì Ngài là Đấng Hằng Nghe, Đấng Hiểu Biết.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu: 127).
{Wa tub a lây na in na ka an tat tâu wa bur ro him - và xin Ngài lượng thứ cho những lầm lỡ của bầy tôi, quả thật Ngài là Đấng Hằng Chấp Nhận Sám Hối, Đấng Khoan Dung.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu: 128).
{Rab ba na a ti na fiđ đun da ha sa nah wa fil a khi ro ti ha sa nah wa qi na a zda banh nar - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài hãy ban cho bầy tôi mọi điều tốt đẹp ở trần gian này và mọi điều tốt đẹp ở Đời Sau; và xin Ngài hãy bảo vệ bầy tôi thoát khỏi hình phạt của Hỏa Ngục.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu: 201).
{Sa mi' na wa a to' na ghuf ro na ka rab ba na wa i lây kal ma sir - Bầy tôi xin nghe và phục tùng mệnh lệnh. Xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho bầy tôi hỡi Thượng Đế của bầy tôi, và bầy tôi chắc chắn phải quay trở về trình diện Ngài.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu: 285).
{Rab ba na la tu a khizd na in na si na âu akh to' na. Rab ba na wa la tah mil a lây na is ran ka ma ha mal ta hu a lal la zdi na min qob li na. Rab ba na wa la tu hâm mil na ma la to qo ta la na bi hi wa' fu an na wagh fir la na war hâm na an ta mâu la na fan sur na a lal qâu mil ka fi rin - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đừng bắt tội bầy tôi nếu bầy tôi quên hay sai sót; lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đừng bắt bầy tôi gánh vác nặng nề giống như Ngài đã đặt gánh nặng lên những người trước bầy tôi; lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đừng bắt bầy tôi gánh lấy những gì vượt quá khả năng của bầy tôi, xin Ngài hãy lượng thứ cho bầy tôi, tha thứ tội lỗi cho bầy tôi và thương xót bầy tôi, Ngài là Đấng Bảo Hộ của bầy tôi, xin Ngài phù hộ bầy tôi giành chiến thắng trước những kẻ vô đức tin.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu: 286).
{Rab ba na la tu zigh qu lu ba na ba' đa izd ha dây ta na wa hab la na mil la đun ka rahmah, in na ka an tal wah hab - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đừng làm trái tim của bầy tôi lệch lạc sau khi Ngài đã hướng dẫn bầy tôi, xin Ngài hãy ban cho bầy tôi hồng phúc từ nơi Ngài. Quả thật, Ngài là Đấng Hằng Ban Phát.} (chương 3 - Ali ‘Imran, câu: 8).
{Rab ba na in na na a man na fagh fir la na zdu nu ba na wa qi na a zda ban nar - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, quả thật bầy tôi đã có đức tin, xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho bầy tôi và xin Ngài hãy cứu bầy tôi thoát khỏi sự trừng phạt nơi Hỏa Ngục.} (chương 3 - Ali 'Imran, câu: 16).
{Rab bi hab li mil la đun ka zdur ri da tanh toy di ba tan in na ka sa mi uđ đu a' - Lạy Thượng Đế bề tôi, xin Ngài hãy rủ lòng thương ban cho bề tôi một hậu duệ tốt đẹp, chắc chắn Ngài nghe thấy rõ lời nguyện cầu.] (chương 3 – Ali 'Imran, câu: 38).
(Rab ba na a man na bi ma an zal ta wat ta ba' nar ro su la fak tub na ma ash sha hi đin - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi đã có đức tin nơi điều mà Ngài đã mặc khải và bầy tôi nguyện đi theo vị Thiên Sứ (của Ngài). Bởi vậy, xin Ngài hãy ghi tên bầy tôi cùng với những người chứng nhận (của sự thật này)}. (chương 3 – Ali 'Imran, câu: 53).
{Rab ba nagh fir la na zdu nu ba na wa is ro fa na fi âm ri na wa thâb bit aq đa ma na wan sur na a lal qâu mil ka fi rin - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài xí xóa tội lỗi cho bầy tôi, những sai phạm quá mức của bầy tôi, xin Ngài hãy giữ vững đôi chân của bầy tôi và phù hộ bầy tôi giành chiến thắng trước đám người vô đức tin.} (chương 3 – Ali 'Imran, câu: 147).
{Rab ba na ma kho laq ta ha zda ba ti lan, sub ha na ka fa qi na azda ban nar - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, Ngài đã không tạo hóa những thứ này một cách vô nghĩa. Quang vinh và trong sạch thay Ngài! Xin Ngài hãy cứu bầy tôi tránh khỏi sự trừng phạt nơi Hỏa Ngục.* Rab ba na in na ka man tuđ khi lan na ro fa qođ akh zây ta hu wa ma lizh zho li mi na min an sar - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, người nào đã bị Ngài tống vào Hỏa Ngục thì đó là kẻ đã bị Ngài sỉ nhục. Quả thật, những kẻ làm điều sai trái sẽ không được ai giúp đỡ.* Rab ba na in na sa mi' na mu na đi danh du na đi lil i man an a mi nu bi rab bi kum fa a manh na, rab ba na fagh fir là na zdu nu ba na wa kaf fir an na sây di a ti na wa ta waf fa na ma al ab rar - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi đã nghe được Vị mời gọi kêu gọi đến với đức tin rằng hãy tin nơi Thượng Đế của các người và bầy tôi đã tin tưởng. Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho bầy tôi, xin hãy xí xóa mọi việc làm sai trái mà bầy tôi đã phạm, và xin hãy cho bầy tôi được chết cùng với những người đức hạnh.* Rab ba na wa a ti na ma wa at ta na a la ru su li ka wa la tukh zi na dâu mal qi da mah in na ka la tukh li ful mi 'ađ - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài ban cho bầy tôi những thứ mà Ngài đã hứa với bầy tôi qua (lời nói của) các vị Thiên Sứ của Ngài và xin đừng sỉ nhục bầy tôi vào Ngày Phán Xét. Quả thật, Ngài không bao giờ thất hứa.} (chương 3 – Ali 'Imran, câu: 191-194).
{Rab ba na a man na fak tub la na ma ash sha hi đin - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi đã tin tưởng, xin Ngài hãy ghi bầy tôi cùng với những người chứng nhận (sự thật)}. (chương 5 - Al-Maa-i’dah, câu: 83).
{Rab ba na zho lâm na âm fu si na wa il lâm tagh fir la na wa tar hâm na la na ku nan na mi nal kho si rin - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, quả thật bầy tôi đã bất công với chính bản thân mình, nếu Ngài không tha thứ và đoái thương bầy tôi thì chắc chắn bầy tôi sẽ trở thành những kẻ thua thiệt.} (chương 7 - Al-A'raf, câu: 23).
{Rab ba na la taj 'al na ma al qâu mizh zho li min - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đừng nhập bầy tôi cùng với đám người làm điều sai quấy đó.} (chương 7 - Al-A'raf, câu: 47).
16. Ol lo hum ma - Lạy Allah {An ta wa li du na fagh fir la na war hâm na wa an ta khoi rul gha fi rin - Ngài là Đấng Bảo Hộ của bầy tôi, xin Ngài hãy tha thứ cho bầy tôi và thương xót bầy tôi, bởi Ngài là Đấng Tha Thứ tốt nhất!* Wak tub la na fi ha zdi hiđ đun da ha sa nah w fil a khi roh - Xin Ngài an bài cho bầy tôi những điều tốt đẹp ở trần gian và ở Đời Sau.} (chương 7 - Al-’Araf, câu: 155-156).
17- {Has bi dol lah la i la ha il la hu, a lây hi ta wak kal tu wa hu wa rab bul ar shil a zhim - Allah đã đủ đối với Ta, không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài. Ta phó thác cho Ngài. Quả thật, Ngài là Chủ Nhân của chiếc ngai vương vĩ đại.} (chương 9 - Al-Tawbah, câu: 129).
18- {Rab ba na la taj al na fit na tal li qâu mizh zho li min - Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đừng biến bầy tôi thành một phương tiện thử thách cho những kẻ tàn bạo ác bá.* Wa naj ji na bi roh ma ti ka mi nal qâu mil ka fi rin - Với lòng thương xót của Ngài, xin Ngài giải cứu bầy tôi khỏi đám người vô đức tin.} (chương 10 - Yunus, câu: 85, 86).
19- {Rab bi in ni a u zdu bi ka an as a la ka ma lây sa li bi hi il mun wa il la tagh fir li wa tar hâm ni a kun mi nal kho si rin - Lạy Thượng Đế của bề tôi, bề tôi xin Ngài che chở bề tôi tránh khỏi việc đòi hỏi Ngài về những điều bề tôi không biết. Nếu Ngài không tha thứ và thương xót bề tôi thì chắc chắn bề tôi sẽ nằm trong số những kẻ thua thiệt.} (chương 11 - Hud, câu: 47).
20- {Ol lo hum ma da - Lạy Allah, hỡi {Fa ti ras sa ma wa ti wal arđ, an ta wa li di fiđ đun da wal a khi roh, ta waf fa ni mus li man wa al hiq ni bis so li hin - Đấng đã tạo ra các tầng trời và trái đất, Đấng Bảo Hộ cho bề tôi ở trần gian này và cả ở Đời Sau, xin Ngài ban cho bề tôi được chết là một người Muslim và xin Ngài thu nhận bề tôi vào cùng với nhóm người đức hạnh của Ngài.} (chương 12 - Yusuf, câu: 101 [10]) [10] Xem (Al-Fawa-id - Những điều hữu ích) của Ibnu Al-Qaiyim, trang 436, 437.
{Rab bij al ha zdal ba la đa a mi nan waj nub ni wa ba ni da an na' bu đal os nam - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài làm cho thành phố này được an toàn và xin Ngài tránh cho bề tôi và con cháu của bề tôi khỏi việc thờ phụng các thần tượng.} (chương 14 - Ibrahim, câu: 35).
{Rab bij al ni mu qi mas so lah wa min zdur ri da ti, rab ba na wa ta qab bal du'a - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài phù hộ bề tôi duy trì lễ nguyện Salah và cả con cháu của bề tôi. Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài chấp nhận lời cầu nguyện này.} (chương 14 - Ibrahim, câu: 40).
{Rab ba nagh fir li wa li wa li đây da wa lil mu' mi nin dâu ma da qu mul hi sab - Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho bề tôi, cho cha mẹ của bề tôi và cho những người có đức tin vào Ngày Phán Xét được thiết lập.} (chương 14 - Ibrahim, câu: 41).
{Rab ba na a ti na mil la đun ka rah ma tan wa hây di la na min âm ri na ro sha đa - Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài hãy thương xót bầy tôi và xin Ngài hãy sắp xếp vụ việc của bầy tôi theo hướng tốt đẹp.} (chương 18 - Al-Kahf, câu: 10).
{Rab bish roh li sođ ri - Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài nới rộng lồng ngực của bề tôi. * Wa das sir li âm ri - Xin Ngài làm cho công việc của bề tôi được thuận lợi.* Wah lul uq đa tâm mil li sa ni, dâuf qo hu qâu li - Xin Ngài tháo cái gút (ngọng) ra khỏi chiếc lưỡi của bề tôi, để họ hiểu lời của bề tôi.} (chương 20 - Taha, câu: 25-28).
{Rab bi ziđ ni il man - Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài ban thêm kiến thức cho bề tôi.} (chương 20 - Taha, câu 114).
27- {La i la ha il la an ta sub ha na ka in ni kun tu mi nazh zho li min - Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài; Quang vinh thay Ngài! Bề tôi thực sự đã sai quấy.} (chương 21 - Al-Ambiya, câu: 87).
{Rab bi la ta zdar ni far đan wa an ta khoi rul wa ri thin - Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài đừng bỏ mặc bề tôi một mình đơn độc và Ngài là Đấng để lại di sản tốt nhất.} (chương 21 - Al-Ambiya, câu: 89).
{Rab bi a u zdu bi ka min ha ma za tish sha da tin - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài che chở bề tôi tránh xa khỏi những xúi bẩy của những tên Shaytan.* Wa a u zdu bi ka rab bi an dah đu run - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài che chở bề tôi (bằng việc) ngăn chúng không đến gần bề tôi.} (chương 23 - Al-Mu’minun, câu: 97, 98).
{Rab ba na a man na fagh fir la na war hâm na wa an ta khoi rur ro hi min - Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi đã tin, xin Ngài tha thứ cho bầy tôi và xin Ngài thương xót bầy tôi bởi Ngài là Đấng thương xót tốt nhất. (chương 23 - Al-Mu'minun, câu: 109).
31- ((Rab bigh fir war hâm wa an ta khoi rur ro hi min - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài tha thứ cho bề tôi và thương xót bề tôi bởi Ngài là Đấng thương xót tốt nhất!)) (chương 23 - Al-Mu’minun, câu: 118).
32 - {Rab ba nos rif an na a zda ba ja han na ma in na a zda ba ha ka na gho ro ma - Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đưa bầy tôi ra xa khỏi hình phạt của Hỏa Ngục. Quả thật, sự trừng phạt nơi Hỏa Ngục là một sự trừng phạt dai dẳng.* In na ha sa at mus ta qar râu wa mu qo ma - Quả thật Hỏa Ngục là một nơi cư ngụ và là một nơi nghỉ vô cùng tồi tệ.} (chương 25 - Al-Furqan, câu: 65-66).
33- {Rab ba na hâb la na min az wa ji na wa zdur ri da ti na qur ro ta a' du nin waj al na lil mut ta qi na i ma ma - Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài làm cho vợ và con cái của bầy tôi thành một nguồn vui cho cặp mắt của bầy tôi, xin Ngài hãy để bầy tôi thành người lãnh đạo mẫu mực cho những người ngay chính.} (chương 25 - Al-Furqan, câu: 74).
{Rab bi hâb li huk man wa al hiq ni bis so li hin - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài ban cho bề tôi sự khôn ngoan và xin Ngài nhập bề tôi cùng với những người đức hạnh.* Waj al li li sa na siđ qin fil a khi roh - Xin Ngài vinh danh bề tôi trên chiếc lưỡi của những thế hệ mai sau. * Waj al ni min wa ro tha ni jan na tin na 'im - Xin Ngài làm cho bề tôi thành một người thừa kế Thiên Đàng Hạnh phúc.” (chương 26 – Ash-Shu’ara’, câu: 83-85).
{Wa la tukh zi ni dâu ma dub a thun - Xin Ngài đừng hạ nhục bề tôi vào Ngày nhân loại được phục sinh.* Dâu ma la dăn fa u ma lun wa ba nun - Đó là Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được gì.* il la man a tol lo ha bi qol bin sa lim - Ngoại trừ những ai đến với Allah bằng một tấm lòng trong sạch.} (chương 26 - Al-Shu-‘ara’, câu: 87-89)
36- {Rab bi âu zi' ni an ash ku ro ni' ma ta kal la ti an âm ta a lây da wa a la wa li dây da wa an a' ma la so li han tar đo hu wa ađ khil ni bi roh ma ti ka fi i ba đi kos so li hin - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài hãy khiến cho bề tôi biết tạ ơn Ngài về những ân huệ mà Ngài đã ban cho bề tôi, cho cha mẹ của bề tôi, hãy khiến bề tôi làm việc thiện hồng làm hài lòng Ngài và xin lấy đức khoan dung của Ngài mà thâu nhận bề tôi vào đám bầy tôi sùng đạo của Ngài.} (chương 27 - Al-Naml, câu: 19).
37- ((Rab bi in ni zho lâm tu naf si fagh fir li - Thượng Đế của bề tôi, bề tôi đã bất công với chính mình, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho bề tôi.)) (chương 28 - Al-Qasas, câu: 16).
{Rab bi naj ji ni mi nal qâu mizh zho li min - Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài cứu bề tôi khỏi đám người làm điều sai quấy bất công kia!} (chương 28 - Al-Qasas, câu: 21).
{A sa rab bi an dah đi da ni sa wa as sa bil - Mong rằng Thượng Đế của ta sẽ dắt ta đi đến con đường đúng đắn.} (chương 28 - Al-Qasas, câu: 22).
{Rab bi in ni li an zal ta i lây da min khoi rin fa qir - Thượng Đế của bề tôi, quả thật bề tôi đang cần điều tốt đẹp Ngài ban cho.} (chương 28 - Al-Qasas, câu: 24).
((Rab bin sur ni a lal qâu mil muf si đin - Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài phù hộ bề tôi thắng đám người thối nát này.)) (chương 29 - Al-‘Ankabut, câu: 30).
{Rab bi hâb li mi nos so li hi - Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài ban cho bề tôi một đứa con đức hạnh.} (chương 37 - Al-Saffaat, câu: 100).
43- {Rab bi âu zi' ni an ash ku ro ni' ma ta kal la ti an âm ta a lây da wa a la wa li dây da wa an a' ma la so li han tar đo hu wa os lih li fi zdur ri da ti in ni tub tu i lây ka wa in ni mi nal mus li min - Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài phù hộ bề tôi biết ơn về các Ân Huệ mà Ngài đã ban cho bề tôi và cho cha mẹ của bề tôi, xin Ngài phù hộ bề tôi làm điều thiện tốt được Ngài hài lòng, và xin Ngài cải thiện con cháu của bề tôi. Quả thật, bề tôi quay về sám hối với Ngài và bề tôi xin làm một người Muslim (thần phục Ngài).} (chương 46 - Al-Ahqaf, câu: 15).
{Rab ba nagh fir la na wa li ikh wa ni nal la zdi na sa ba qu na bil i man wa la taj al fi qu lu bi na ghil lal lil la zdi na a ma nu, rab ba na in na ka ro u fur ro him - Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho bầy tôi và cho những người anh em đã tin tưởng trước bầy tôi, xin Ngài chớ để lòng bầy tôi có nỗi oán giận nào đối với những người đã có đức tin. Lạy Thượng Đế của bầy tôi, quả thật Ngài là Đấng Tử Tế, Đấng Nhân Từ.} (chương 59 - Al-Hashr, câu: 10).
45- {Rab ba na a lây ka ta wak kal tu wa i lây ka a nâb na wa i lây kal ma sir - Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi xin phó thác cho Ngài và bầy tôi xin quay về sám hối với Ngài và Ngài là đích đến của bầy tôi.} (chương 60 - Al-Mumtahinah, câu: 4).
46- {Rab ba na la taj al na fit na tal lil la zdi na ka fa ru wagh fir la na rab ba na in na ka an tal a zi zul ha kim - Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đừng làm cho bầy tôi thành đối tượng hành hạ cho những kẻ vô đức tin, và xin Ngài tha thứ cho bầy tôi. Quả thật, Ngài là Đấng Chí Tôn, Đấng Thông Thái.} (chương 60 - Al-Mumtahinah, câu: 5).
{Rab bigh fir li wa li wa li đây da wa li man đa kho la bây ti da mu' mi nan wa lil mu' mi nin wal mu' mi nat - Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài tha thứ cho bề tôi và cho cha mẹ của bề tôi và cho ai vào nhà của bề tôi là một người có đức tin, xin Ngài tha thứ cho những người có đức tin nam cũng như nữ.} (chương 71 - Nuh, câu: 28).
48-((Rab ba na at mim la na nu ro na wagh fir la na in na in na ka a la kul li shây in qo đir -Thượng Đế của bầy tôi! Xin Ngài hoàn thiện cho bầy tôi ánh sáng của bầy tôi và xin Ngài tha thứ tội lỗi cho bầy tôi, quả thật, Ngài là Đấng Toàn Năng trên tất cả mọi thứ.)) (chương 66 - At-Tahrim, câu: 8).
49- ((Ol lo hum mah đi ni li makh tu li fa fi hi mi nal haqqi bi iz ni ka, in na ka tah đi man ta sa u i la si ro tim mus ta kim - Lạy Allah, xin Ngài hướng dẫn bề tôi đến với Chân Lý trong những điều còn bất đồng bằng sự cho phép của Ngài. Quả thật, Ngài hướng dẫn người nào Ngài muốn đến với con đường ngay thẳng.))[11]. [11] Trích từ chương 2 - Al-Baqarah, câu: 213.
50- ((Ol lo hum ma a ti nil hik ma tal la ti man u ti ha fa cođ u ti da khoi ron ka thi ra - Lạy Allah, xin Ngài ban cho bề tôi sự khôn ngoan mà bất cứ ai được ban cho thì đã được ban cho nhiều điều tốt lành.)) [12]. [12] Trích từ chương 2 – Al-Baqarah, câu: 269.
51- {Ol lo hum ma thâb bit ni bil qâu lith tha bit fil ha da tiđ đun da wa fil a khi roh - Lạy Allah, xin Ngài giữ vững bề tôi với lời nói kiên định trên cõi đời này và ở Đời Sau.} [13] [13] (chương 14 - Ibrahim, câu: 27).
52- ((Ol lo hum ma hab bib i lây nal i ma na wa zây din hu fi cu lu bi na, wa car rih i lây nal cuf ro wal fu su co wal 'is so na, waj 'al na mi nar ro shi đin - Lạy Allah, xin Ngài làm cho bề tôi yêu mến đức tin Iman và trang hoàng nó trong trái tim bề tôi, và làm cho bề tôi ghét sự vô đức tin, sự tội lỗi và sự bất tuân, và làm cho bề tôi thành những người được hướng dẫn đúng đường.))[14]. [14] (chương 49 - Al-Hujurat, câu: 7).
53- ((Ol lo hum ma qi ni shuh ha naf si waj al ni mi nal muf li hin - Lạy Allah, xin Ngài bảo vệ bề tôi khỏi sự keo kiệt của bản thân và xin Ngài cho bề tôi trở thành một trong những người thành công.))[15]. [15] Trích từ chương 64 - At-Taghabun, câu: 16.
54- (("Ol lo hum ma a ti na fid dun ya ha sa nah, wa fil a khi ro ti ha sa nah, wa qi na a zda ban nar" - "Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài hãy ban cho bề tôi mọi điều tốt đẹp ở trần gian này và mọi điều tốt đẹp ở Đời Sau; và xin Ngài hãy bảo vệ bề tôi thoát khỏi hình phạt của Hỏa Ngục."))[16]. [16] Al-Bukhari, số (4522) và số (6389), Muslim, số (2690).
55- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min fit na tin nar wa 'a zda bin nar, wa fit na til cab ri, wa 'a zda bil cab ri, wa shar ri fit na til ghi na, wa shar ri fit na til fac ri, Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min shar ri fit na til ma si hiđ đaj jal, Ol lo hum migh sil col bi bi ma ith thal ji wal ba rad, wa naq qi col bi mi nal kho to da ka ma naq qay tath thau bal ab da đo mi nad da nas, wa ba 'id bai ni wa bai na kho to da da ka ma ba 'ad ta bai nal mash ri ci wal magh rib, Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal ka sal, wal ma' tham, wal magh ram - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự thử thách của Hỏa Ngục và sự trừng phạt của Hỏa Ngục, sự thử thách của cõi mộ và sự trừng phạt của cõi mộ, điều xấu của thử thách giàu có và điều xấu của thử thách nghèo đói. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi điều xấu của sự thử thách của Masih Dajjal. Lạy Allah, xin Ngài hãy rửa sạch trái tim của bề tôi bằng nước tuyết và mưa đá, và thanh tẩy trái tim của bề tôi khỏi những tội lỗi giống như Ngài đã tẩy sạch chiếc áo trắng khỏi những vết dơ bẩn, và xin Ngài hãy ngăn cách giữa bề tôi và tội lỗi của bề tôi như Ngài đã ngăn cách giữa phương đông và phương tây. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự lười biếng, tội lỗi và nợ nần.))[17]. [17] Al-Bukhari, số 832, và Muslim, số 589.
56- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal 'aj zi, wal ka sal, wal ju bun, wal ha ram, wal bu khul, wa a 'u zdu bi ka min 'a zda bil cab ri, wa min fit na til mah da wal ma mat - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự bất lực, sự lười biếng, sự hèn nhát, tuổi già, sự keo kiệt, và bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi hình phạt nơi cõi mộ và thử thách của cuộc sống và cái chết.))[18]. [18] Al-Bukhari, số (2823), và Muslim, số (2706).
57- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min jah đil ba la', wa đa ro kish sha co', wa su il co đo', wa sha ma ta til 'a đa' - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự đau khổ khắc nghiệt, vực sâu của sự khốn cùng, sự gian ác của sự phán xét và sự hả hê của kẻ thù.))[19]. [19] Al-Bukhari, số 6347, và Muslim, số 2707, và lời thuật là: “Thiên Sứ của Allah thường cầu xin che chở khỏi sự đau khổ khắc nghiệt, vực sâu của sự khốn cùng, sự gian ác của sự phán xét và sự hả hê của kẻ thù.”
58- ((Ol lo hum ma os leh li đi ni al la zdi hu wa 'is ma tu âm ri, wa os leh li đun ya yal la ti fi ha ma 'a shi, wa os leh li a khi ro ti al la ti fi ha ma 'a đi, waj 'alil ha ya ta zi ya da tan li fi kul li khoir, waj 'alil mâu ta ro ha tan li min kul li shar - Lạy Allah, xin hãy Ngài cải thiện tôn giáo của bề tôi, vì đó là sự bảo vệ cho vụ việc của bề tôi. Xin Ngài hãy cải thiện thế giới trần tục của bề tôi, nơi mà bề tôi sinh sống. Và xin Ngài hãy cải thiện Ngày Sau cho bề tôi, nơi mà bề tôi sẽ trở về. Xin Ngài hãy làm cho cuộc sống của bề tôi được gia tăng trong mọi điều tốt lành, và làm cho cái chết thành sự thanh thản và bình an cho bề tôi khỏi mọi điều xấu.))[20] [20] Do Muslim ghi số (2720).
59- ((Ol lo hum ma in ni as a lu kal hu đa, wat tu qo, wal a faf, wal ghi na - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài sự hướng đạo, sự ngoan đạo, sự đức hạnh và sự sung túc))[21]. [21] Do Muslim ghi số (2721).
60- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal 'aj zi, wal kas li, wal jub ni, wal bukh li, wal ha ram, wa 'a zda bil qab ri, Ol lo hum ma a ti naf si taq wa ha, wa zak ki ha an ta khoi ru ma zak ka ha, an ta wa li du ha wa mâu la ha, Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi 'il min la dan fa', wa min qol bin la yakh sha', wa min naf sin la tash ba', wa min đa' wa tin la dus ta ja bu la ha - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự bất lực, lười biếng, hèn nhát, keo kiệt, già yếu và hình phạt nơi cõi mộ. Lạy Allah, xin Ngài ban cho linh hồn bề tôi sự ngoan đạo, và xin Ngài thanh lọc nó bởi Ngài là Đấng Tốt Nhất trong việc thanh lọc, Ngài là Đấng Bảo Hộ và Chủ Nhân của nó. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi kiến thức không mang lại lợi ích, khỏi con tim không biết khiêm nhường kính sợ, khỏi bản ngã không bao giờ biết đủ, và khỏi lời cầu xin không được đáp lại.))[22]. [22] Do Muslim ghi số (2722).
61- ((Ol lo hum mah đi ni wa sađ điđ ni, ol lo hum in ni as a lu kal hu đa was sa đađ - Lạy Allah, xin Ngài hãy hướng dẫn bầy tôi và giúp bầy tôi đi đúng đường. Lạy Allah, quả thật bầy tôi cầu xin Ngài sự hướng dẫn và sự đúng đắn))[23]. [23] Do Muslim ghi số (2725).
62- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min za wa li n'e ma tik, wa ta haw wu li 'a fi ya tik, wa fu ja a ti nuq ma tik, wa ja mi 'i sa kho tik - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh khỏi việc bị mất đi ân huệ của Ngài, bị mất đi sức khỏe mà Ngài đã ban cho và tránh khỏi hình phạt tức thời của Ngài và mọi sự giận dữ của Ngài))[24]. [24] Do Muslim ghi số (2739).
63- ((Ol lo hum ma in ni a u' zdu bi ka min shar ri ma a' mil tu, wa min shar ri ma lâm 'a mal - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi điều xấu mà bề tôi đã làm và điều xấu mà bề tôi chưa làm.))[25]. [25] Do Muslim ghi số (2716).
{Ol lo hum mak thir ma li, wa wa la đi, wa ba rik li fi ma a’toy ta ni - Lạy Allah, xin Ngài gia tăng tài sản và con cái cho bề tôi, và xin Ngài ban phước lành cho bề tôi trong những gì Ngài đã ban cho))[26], ((wa a til ha ya ti ‘a la toa ‘a tik, wa ah sin ‘a ma li, wagh fir li - và xin Ngài kéo dài tuổi thọ của bề tôi trong sự vâng lời Ngài, và làm tốt đẹp cho việc làm của bề tôi, và xin Ngài tha thứ cho bề tôi))[27]. [26] Minh chứng cho điều này là lời cầu xin của Nabi ﷺ dành cho Anas: {Lạy Allah, xin Ngài hãy ban cho y nhiều của cải và con cái, và xin Ngài hãy ban phúc cho y trong những gì Ngài đã ban cho y}. Al-Bukhari, số 1982, và Muslim, số 660. [27] Al-Bukhari ghi lại trong Al-Adab Al-Mufrad, số 653, và được Al-Albani xác thực là Sahih trong Silsilah Al-Ahadith Al-Sahihah, số 2241, và trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad, trang 244. Phần nội dung trong ngoặc vuông được chứng minh bằng lời của Người ﷺ khi Người được hỏi: Ai là người tốt nhất trong thiên hạ? Người đáp: {Người sống thọ và ngoan đạo}, Hadith do Al-Tirmizdi ghi lại, số 2329, và Ahmad, số 17716, được Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 2/271. Và tôi đã hỏi Sheikh đáng kính của chúng tôi là Ibn Baz về việc cầu xin bằng lời cầu xin này và liệu nó có phải là Sunnah không? thì ông trả lời: "Vâng".
65- ((La i la ha il lol loh, al 'a zhi mul ha lim, la i la ha il lol loh, rab bul ar shil 'a zhim, la i la ha il lol loh, rab bus sa ma wat, rab bul ardh, wa rab bul 'ar shil ka rim - Không có Thượng Đế nào ngoài Allah, Đấng Vĩ Đại, Đấng Hằng Chịu Đựng. Không có Thượng Đế nào ngoài Allah, Đấng Chủ Nhân của chiếc Ngai Vương Vĩ Đại. Không có Thượng Đế nào ngoài Allah, Đấng Chủ Tể của các tầng trời, Đấng Chủ Tể của trái đất, và Đấng Chủ Tể của chiếc Ngai Vương Vinh Dự.))[28]. [28] Al-Bukhari, số (6345), và Muslim, số (2730).
66- {Ol lo hum ma roh ma ta ka ar ju, fa la ta kil ni i la naf si tar fa ta 'ain, wa os leh li sha' ni ku la hu la i la ha il la an ta - Lạy Allah, bề tôi hy vọng vào lòng thương xót của Ngài, xin đừng bỏ rơi bề tôi dù trong chớp mắt, và xin Ngài sắp xếp mọi việc cho bề tôi. Không có Thượng Đế nào ngoài Ngài.}[29]. [29] Abu Dawood ghi số 5090, và Ahmad ghi 5/42, và Al-Albani xếp loại là Hasan trong Sahih Abu Dawood, 3/250, và trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad, số 260, và Ibn Baz cũng đã xếp loại Isnad của nó là Hasan trong Tuhfat Al-Akhyar, trang 24.
67- ((La i la ha il la an ta, sub ha na ka, in ni kun tu mi nozh zho li min - Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài; Quang vinh thay Ngài! Bề tôi thực sự đã sai quấy.))[30]. [30] Do At-Tirmizdi ghi lại, số 3505, và Al-Hakim, được Az-Zahabi xác thực và đồng thuận, 1/505, và được Al-Albani xác thực trong Sahih At-Tirmidhi, 3/168, và lời văn như sau: ((Lời cầu nguyện của Zdan-nun (Yunus tức Jonah) khi Y khẩn cầu lúc đang ở trong bụng cá voi: “Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài; Quang vinh thay Ngài! Bề tôi thực sự đã sai quấy.” [Surah Al-Anbiya’: 87], quả thật không một người Muslim nào cầu xin bằng lời cầu nguyện này về bất cứ điều gì mà không được Allah đáp lại)).
68- ((Ol lo hum ma in ni 'ab đu ka, ib nu 'ab đi ka, ib nu a ma ti ka, na si da ti bi da đi ka, ma đin fi da huk mu ka, 'ađ lun fi da co đo u ka, as a lu ka bi kul li is min hu wa la ka sâm mây ta bi hi naf sa ka, âu an zal ta hu fi ki ta bi ka, âu 'al lâm ta hu a ha đan min khol ci ka, âu is ta' thar ta bi hi fi il mil ghoi bi 'in đi ka: an taj a lal cur an ro bi a col bi, wa nu ro sođ ri, wa ja la a huz ni, wa zda ha ba hâm mi - Lạy Allah, bề tôi là tôi tớ của Ngài, là đứa con trai của tôi tớ Ngài, là đứa con của người nữ tôi tớ Ngài, chùm tóc trên trán của bề tôi nằm trong tay Ngài, quá khứ của bề tôi là phán quyết của Ngài, và sắc lệnh của Ngài cho bề tôi là công bằng, bề tôi cầu xin Ngài qua mọi danh xưng thuộc về Ngài, danh xưng mà Ngài đã tự đặt cho mình, hoặc được tiết lộ trong Kinh Sách của Ngài, hoặc đã dạy cho bất kỳ tạo vật nào của Ngài, hoặc được giữ riêng cho Ngài trong kiến thức về điều vô hình ở nơi Ngài: Rằng xin Ngài biến Kinh Qur'an thành mùa xuân cho trái tim bề tôi, ánh sáng của lồng ngực bề tôi, phương thuốc xóa tan nỗi buồn của bề tôi, và phương thuốc làm cho nỗi lo lắng của bề tôi biến mất))[31]. [31] Ahmad ghi số (1/391, 452), Al-Hakim ghi số (1/509), được Al-Hafidh xác thực Hasan trong Takhrij Al-Azkar, và được Al-Albani xác thực Sahih trong Takhrij Al-Kalim At-Tayyib, trang 73.
69- ((Ol lo hum ma mu sar ri fal qu lub, sar rif cu lu ba na 'a la to a tik – Lạy Allah, Đấng chuyển đổi trái tim, xin hãy chuyển đổi trái tim bầy tôi để vâng phục Ngài.))[32]. [32] Muslim, số (2654).
70- ((Da mu col li bal cu lub, thâb bit col bi 'a la đi nik - Hỡi Đấng lật trở trái tim, xin Ngài làm cho trái tim của bề tôi kiên định trong tôn giáo của Ngài.))[33]. [33] At-Tirmizdi ghi số 3522, Ahmad ghi số 4/182, và Al-Hakim ghi số 1/525 và 528, được Az-Zahabi xác thực Sahih và đồng thuận, và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Jami'a, 6/309, và Sahih At-Tirmizdi, 3/171. Và bà Ummu Salamah đã nói: ((Lời cầu xin mà Người ﷺ thường cầu xin nhất là )).
71- ((Ol lo hum ma in ni as a lu kal a fi yah fiđ đun da wal a khi roh - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi sự an lạc ở thế giới này và ở thế giới Đời Sau.))[34] [34] At-Tirmizdi, số (3514), và Al-Bukhari trong Tập về phép tắc ứng xử, số (726), và lời thuật theo At-Tirmizdi là: ((Hãy cầu xin Allah sự bình an ở đời này và Đời Sau)), và trong một lời thuật khác: ((Hãy cầu xin Allah sự tha thứ và sự bình an, vì quả thật không một ai sau đức tin chắc chắn lại được ban cho điều gì tốt hơn sự bình an)), và đã được Al-Albani xác thực trong Sahih Ibn Majah, 3/180, và 3/185, và 3/170, và nó có các lời thuật chứng thực, xem chúng trong: Musnad của Imam Ahmad được sắp xếp bởi Ahmad Shakir, 1/156-157.
72- ((Ol lo hum ma ah sin 'a ci ba ta na fil u mu ri kul li ha, wa a jir na min khiz ziđ đun da, wa 'a zda bil a khi roh - Lạy Allah, xin Ngài làm cho kết cuộc của bầy tôi được tốt đẹp trong mọi việc, và xin cứu bầy tôi khỏi sự ô nhục của thế gian này và sự trừng phạt của Đời Sau.))[35]. [35] Ahmad (4/181), và At-Tabari ghi trong Al-Kabir (2/33/1169), và trong Ad-Du'a, số (1436), và Ibnu Hibban ghi số (2424), (2425) (Mawarid), Al-Haithami ghi trong Mujma' Az-Zawa-id (10/178): ((Những người truyền của Ahmad và một trong những chuỗi truyền của At-Tabari đều đáng tin)).
73- ((Rab bi a 'in ni wa la tu 'in a lây da, wan sur ni wa la tan sur 'a lây da, wâm kur li wa la tâm kur 'a lây da, wah đi ni, wa das sir ril hu đa i lây da, wan sur ni 'a la man ba gho 'a lây da, Rab bij 'al ni la ka shak ka ron, la ka zâk ka ron, la ka roh ha ban, la ka mit wa 'an, i lây ka mukh bi tan au wa han mu ni ban, Rab bi ta câb bal tâu ba ti, wagh sil hâu ba ti, wa a jib đa' wa ti, wa thâb bit huj ja ti, wah đi col bi, wa sađ điđ li sa ni, was lul sa khi ma ti col bi - Lạy Allah, xin Ngài hãy giúp bề tôi và đừng giúp chống lại bề tôi, xin Ngài hãy ủng hộ bề tôi và đừng ủng hộ chống lại bề tôi, xin Ngài hãy lập kế hoạch cho bề tôi và đừng lập kế hoạch chống lại bề tôi, xin Ngài hãy hướng dẫn và tạo điều kiện để bề tôi được hướng dẫn, và xin ủng hộ bề tôi chống lại bất kỳ ai đã áp bức bề tôi. Lạy Allah, xin Ngài hãy biến bề tôi thành người luôn biết ơn Ngài, luôn tưởng nhớ đến Ngài, luôn kính sợ Ngài, luôn vâng lời Ngài, luôn khiêm nhường, than khóc và quay về sám hối với Ngài. Lạy Allah, xin Ngài hãy chấp nhận sự sám hối của bề tôi, xin Ngài hãy rửa sạch tội lỗi của bề tôi, xin Ngài hãy đáp lại lời cầu xin của bề tôi, xin Ngài hãy làm vững chắc lập luận của bề tôi, xin Ngài hãy hướng dẫn trái tim của bề tôi, xin Ngài hãy làm cho lưỡi bề tôi nói điều đúng đắn, và xin Ngài hãy loại bỏ sự oán thù khỏi trái tim bề tôi.))[36]. [36] Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad, số 664 và 665, Abu Dawood, số 1510 và 1511, At-Tirmizdi, số 3551, Ibn Majah, số 3830, Ahmad 1/127, Al-Hakim ghi và xác thực là Sahih, và được Az-Zahabi tán đồng, 1/519, và Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Abu Dawood, 1/414, và trong Sahih At-Tirmizdi, 3/178.
74- ((Ol lo hum ma in na nas a lu ka min kho ri maa sa a la ka min hu na bi yu ka mu ham mad - sol lol lo hu 'a lai hi wa sal lam - wa na 'u zu bi ka min shar ri mas ta 'aa za min hu na bi yu ka mu ham mad - sol lol lo hu 'a lai hi wa sal lam - wa an tal mus ta 'aan, wa 'a lai kal ba laagh, wa laa haw la wa laa qu wa ta il laa bil lah - Lạy Allah, bầy tôi cầu xin Ngài mọi điều tốt đẹp mà Nabi Muhammad ﷺ của Ngài đã cầu xin Ngài, và bầy tôi cầu xin Ngài che chở khỏi mọi điều xấu mà Nabi ﷺ của Ngài đã cầu xin Ngài che chở. Và Ngài là Đấng Trợ Giúp, và nơi Ngài là sự thành tựu, và không có sự chuyển động và cũng như quyền lực nào tự phát ngoại trừ Allah điều khiển.))[37]. [37] At-Tirmizdi số (3521), và Ibnu Majah số (3846), cùng ý nghĩa, và nói: Hasan Gharib, được Al-Albani xác nhận là yếu trong Da'if At-Tirmizdi, trang 387.
75- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min shar ri sâm 'i, wa min shar ri ba so ri, wa min shar ri li sa ni, wa min shar ri col bi, wa min shar ri ma ni di - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi điều xấu xa của thính giác, điều xấu xa của thị giác, điều xấu xa của lưỡi, điều xấu xa của trái tim và điều xấu xa của tinh dịch.))[38] [38] Abu Dawood, số 1551, At-Tirmizdi, số 3492, An-Nasa-i', số 5470, và những người khác. Và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, số 3/166, và trong Sahih An-Nasa-i', số 3/1108.
76- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal ba ros, wal ju nun, wal ju zdam, wa min sây di il as com - Lạy Allah, xin Ngài che chở bề tôi khỏi bệnh phong hủi, bệnh điên, bệnh hoại tử, và khỏi mọi bệnh tật hiểm nghèo.))[39]. [39] Abu Dawood, số (1554), và An-Nasa-i', số (5493), và Ahmad, số (3/192), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i', số (3/1116) và trong Sahih At-Tirmizdi số (3/184).
77- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min mun ka ro til akh la ci, wal 'a ma li, wal ah wa i - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi những hành vi, thói hư tật xấu và ham muốn xấu xa.))[40]. [40] At-Tirmizdi ghi số 3591, và Ibnu Hibban ghi số 2422 (Mawarid), và Al-Hakim ghi số 1/532, và At-Tabrani ghi trong Al-Kabir số 19/19/36. Và được Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, số 3/184.
78- ((Ol lo hum in na ka 'a fu wun ka ri mun, tu hib bul af wa, fa' fu 'an ni - Lạy Allah, Ngài là Đấng Xí Xóa, Đấng Rộng Lượng, Ngài yêu thích sự tha thứ, xin Ngài tha thứ cho bề tôi))[41]. [41] At-Tirmizdi, số 3513, và An-Nasa-i trong Al-kubra, số 7712, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 3/170.
79- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka fe' lal khoi rot, wa tar kal mun ka rot, wa hub bal ma sa kin, wa an tagh fi ro li, wa tar hâm ni, wa i zda a rot ta fit na ta câu min fa ta waf fa ni ghoi ro maf tun, wa as a lu ka hub ba ka, wa hub ba man du hib bu ka, wa hub ba a ma lin du car ri bu ni i la hub bik - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài phù hộ bề tôi làm những điều thiện tốt, từ bỏ những hành vi tội lỗi, yêu thương người nghèo, cầu xin Ngài tha thứ và thương xót, nếu Ngài muốn Fit-nah cho một nhóm người thì xin Ngài cho bề tôi chết trước Fit-nah. Bề tôi cầu xin Ngài làm cho bề tôi yêu thương Ngài, yêu thương những người yêu thương Ngài và yêu những việc làm đưa bề tôi đến gần tình yêu dành cho Ngài.))[42] [42] Do Ahmad ghi lại nguyên văn, 5/243, At-Tirmizdi ghi số 3235 với lời văn tương tự, xác nhận là Hasan, và nói: Tôi đã hỏi Muhammad bin Isma'il – tức Al-Bukhari – thì ông nói: “Đây là Hadith Hasan Sahih”, và ở cuối Hadith Người ﷺ đã nói: “Quả thật, Nó là sự thật, vậy hãy nghiên cứu và học hỏi Nó”, Al-Hakim ghi 1/521, và được Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 3/318.
80- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka mi nal khoi ri kul lih: 'a ji li hi wa a ji lih, ma 'a lim tu min hu wa ma lâm 'a lâm, wa a 'u zdu bi ka mi nash shar ri kul lih 'a ji li hi wa a ji lih, ma 'a lim tu min hu wa ma lâm a' lâm. Ol lo hum ma in ni as a lu ka min khoi ri ma sa a la ka 'ab đu ka wa na bi yu ka, wa a 'u zdu bi ka min shar ri mas ta 'a zda bi ka min hu 'ab du ka wa na bi yu ka. Ol lo hum ma in ni as a lu kal jan nah, wa ma qar ro ba i lây ha min câu linh âu 'a mal, wa a 'u zdu bi ka mi nanh nar wa ma qar ro ba i lây ha min câu linh âu 'a mal, wa as a lu ka anh taj 'a la kul la qo do in qo doi ta hu li khoi ro - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi mọi điều tốt lành, cả đời này và Đời Sau, cả những điều bề tôi biết lẫn những điều bề tôi không biết; và bề tôi tìm kiếm sự che chở nơi Ngài khỏi mọi điều xấu, cả đời này và Đời Sau, cả những điều bề tôi biết lẫn những điều bề tôi không biết. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài điều tốt lành nhất mà người bề tôi và Vị Nabi của Ngài đã cầu xin Ngài; và bề tôi tìm kiếm sự che chở nơi Ngài khỏi điều xấu xa nhất mà người bề tôi và Vị Nabi của Ngài đã tìm kiếm sự che chở nơi Ngài. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài Thiên Đàng và những gì có thể đưa đến gần nó từ lời nói hoặc hành động; và bề tôi tìm kiếm sự che chở nơi Ngài khỏi Hỏa Ngục và những gì có thể đưa đến gần nó từ lời nói hoặc hành động. Và bề tôi cầu xin Ngài an bài cho mọi việc mà Ngài đã định đoạt cho bề tôi là điều tốt đẹp.))[43] (43) Ibnu Maajah ghi số (3846) lời của học giả, Ahmad ghi số (6/134) và lời của phần thêm thứ hai là của học giả, và Al-Hakim ghi số (1/521) và xác thực Sahih, được Az-Zahabi đồng tình, và lời của phần thêm thứ nhất là của học giả, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibnu Maajah số (2/327).
81- ((Ol lo hum mah fazh ni bil is la mi co i ma, wah fazh ni bil is la mi co 'i đa, wah fazh ni bil is la mi ro ci đa, wa la tush mit bi 'a đu wan wa la ha si đa. Ol lo hum ma in ni as 'a lu ka min kul li khoirin kho za i nu hu bi ya đi ka, wa a 'u zdu bi ka min kul li shar rin kho za i nu hu bi ya đi ka - Lạy Allah, xin Ngài bảo vệ bề tôi bằng Islam khi bề tôi đứng, xin Ngài bảo vệ bề tôi bằng Islam khi bề tôi ngồi, và xin Ngài bảo vệ bề tôi bằng Islam khi bề tôi ngủ, và xin Ngài đừng để kẻ thù hay kẻ đố kỵ hả hê đối với bề tôi. Lạy Allah, bề tôi xin Ngài ban cho mọi điều tốt lành mà kho tàng của nó nằm trong Tay Ngài, và bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi mọi điều xấu xa mà kho tàng của nó nằm trong Tay Ngài.))[44]. [44] Al-Hakim ghi số (1/525), xác thực là Sahih và được Az-Zahabi đồng tình, và Al-Albani xác thực là Hasan trong Sahih Al-Jami'a (2/398), và trong bộ chuỗi Hadith Sahih (4/54), số 1540.
82- ((Ol lo hum mâc sim la na min khosh da ti ka ma ta hu lu bi hi bây na na wa bây na ma 'a si di ka, wa min to 'a ti ka ma tu bal li ghu na bi hi jan na ta ka, wa mi nal da ci ni ma tu hâu wi nu bi hi 'a lây na ma so i bađ đun da, Ol lo hum ma mat te' na bi as ma 'i na, wa ab so ri na, wa cu wa ti na ma ah dây ta na, waj 'al hul wa ri tha min na, waj 'al tha' ro na 'a la ma zho la ma na, wan sur na 'a la man 'a đa na, wa la taj 'al mu si ba ta na fi đi ni na, wa la taj 'a liđ đun da ak bar hâm mi na, wa la mab la gho 'il mi na, wa la tu sol lit a lây na man la dar ha mu na -Lạy Allah, xin Ngài ban cho bầy tôi lòng kính sợ Ngài điều mà nó sẽ ngăn cách bầy tôi với sự bất tuân của Ngài, xin Ngài ban cho bầy tôi sự vâng phục Ngài điều mà nó sẽ đưa bầy tôi đến được Thiên Đàng của Ngài, và xin Ngài ban cho bầy tôi niềm tin kiên định điều mà nó giúp bầy tôi vượt qua những tai ương của thế gian này một cách dễ dàng. Lạy Allah, xin Ngài cho bầy tôi được hưởng thính giác, thị giác và sức mạnh của bầy tôi trong thời gian Ngài để bầy tôi sống và biến chúng thành người thừa kế của bầy tôi. Xin Ngài trừng trị những kẻ đã làm hại bầy tôi và giúp bầy tôi chiến thắng những kẻ thù địch với bầy tôi. Xin Ngài đừng biến tai họa của bầy tôi thành điều thử thách trong tôn giáo của bầy tôi, đừng biến thế giới này thành mối quan tâm lớn nhất của bầy tôi, đừng biến phạm vi hiểu biết của bầy tôi vào những điều vô ích, và xin Ngài đừng để những kẻ không thương xót bầy tôi cai trị bầy tôi.))[45] . (45) At-Tirmizdi ghi số 3502, Al-Hakim ghi số 1/528, xác nhận Sahih và được Az-Zahabi đồng tình, Ibnu As-Sunni ghi số 446, và được Al-Albani xác nhận Hasan trong Sahih At-Tirmizdi, số 3/168, và trong Sahih Al-Jami'a, số 1/400.
83- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal jub ni, wa a 'u zdu bi ka mi nal bukh li, wa a 'u zdu bi ka an u rođ đa i la ar zda lil 'um ri, wa a 'u zdu bi ka min fit na tiđ đun da wa 'a zda bil cob ri - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự hèn nhát, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự keo kiệt, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi việc bị đưa trở lại phần tồi tệ nhất của cuộc sống, và bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi những thử thách của thế giới này và hình phạt của cõi mộ)) [46] [46] Al-Bukhari, số (2822).
84- ((Ol lo hum magh fir li kho ti ya ti wa jah li, wa is ro fi fi âm ri, wa ma an ta a' lâm bi hi min ni, ol lo hum magh fir li hâs li, wa jiđ đi, wa kho to i, wa âm đi, wa kul lu zda li ka in đi - Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho tội lỗi, sự ngu dốt, sự lãng phí trong vụ việc của bề tôi, và những điều Ngài biết rõ hơn bề tôi. Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho sự đùa cợt cũng như sự nghiêm túc, sự nhầm lẫn cũng như sự cố ý của bề tôi, vì tất cả những điều đó đều ở nơi bề tôi))[47]. [47] Do Al-Bukhari ghi số (6398) và Muslim ghi số (2719).
85- ((Ol lo hum ma in ni zho lâm tu naf si zhul man ka thi ro, wa la yagh fi ruzd zdu nu ba il la an ta. Fagh fir li magh fi ro tan min ‘in đi ka, war hâm ni, in na ka an tal Gho fu rur Ro him - Lạy Allah, bề tôi đã bất công với bản thân mình rất nhiều, và không ai tha thứ tội lỗi ngoại trừ Ngài. Vậy xin Ngài tha thứ cho bề tôi bằng sự tha thứ của Ngài và xin Ngài thương xót bề tôi, quả thật Ngài là Đấng Tha Thứ, Đấng Nhân Từ)) [48]. [48] Al-Bukhari, số (834), Muslim, số (2705).
86- ((Ol lo hum ma la ka as lâm tu , wa bi ka a' man tu, wa a lây ka ta wak kal tu, wa i lây ka a nâb tu, wa bi ka kho sâm tu. Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi iz za ti ka la i la ha il la an ta an tu dil la ni, an tal hây dul la zdi la ya mu tu, wal jin nu wal in su ya mu tu na - Lạy Allah, vì Ngài bề tôi đã nộp mình phục tùng, vì Ngài bề tôi đã tin tưởng nơi Ngài, vì Ngài bề tôi đã phó thác những sự việc của bề tôi cho Ngài, vì Ngài bề tôi đã quay về sám hối với Ngài, vì Ngài bề tôi đã Thánh chiến. Lạy Allah bề tôi tìm kiếm nơi trú ẩn qua sự hùng mạnh của Ngài, Ngài là Đấng Thượng Đế duy nhất xứng đáng được thờ phụng, xin Ngài che chở cho bề tôi khỏi lầm lạc, bởi Ngài là Đấng vĩnh cửu không bao giờ chết còn loài ma quỉ và loài người đều phải chết.))[49]. [49] Đồng thuận: Al-Bukhari, số (6398), và Muslim, số (2719).
87- ((Ol lo hum ma 'in na nas a lu ka mu ji ba ti roh ma ti ka, wa a za i ma magh fi ro ti ka, was sa la' ma ta min kul li 'ith mi, wal gha ni ma ta min kul li bir rin, wal fâu za bil jan na ti, wan na ja ta mi nan nar - Lạy Allah, quả thật bầy tôi cầu xin Ngài những điều trói buộc lòng thương xót của Ngài, những điều hẳn nhiên được sự tha thứ của Ngài, xin được bằng an khỏi mọi điều tội lỗi, xin được những chiến lợi phẩm từ mọi việc làm ngoan đạo, xin được sự thắng lợi bởi Thiên Đàng và xin được sự cứu rỗi khỏi Hỏa Ngục))[50]. (50) Al-Hakim ghi số 1/525, xác thực là Sahih và được Az-Zahabi đồng tình, và Al-Baihaqi ghi trong Ad-Da'awat, số 206. Tham khảo: Al-Azkar của An-Nawawi, trang 340, được nhà thẩm định Abdul Qadir Al-Arnaut xác thực là Hasan.
88- ((Ol lo hum magh fir lil mu' mi nin wal mu' mi nat - Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho những người nam nữ có đức tin.))(51). [51] Ubadah thuật lại rằng ông đã nghe Nabi ﷺ nói: "Ai cầu xin sự tha thứ cho những người nam nữ có đức tin, Allah sẽ ghi cho y một việc thiện ứng với mỗi người nam và nữ có đức tin.", At-Tabarani ghi trong Al-Kabir, 5/202, số 5092, và 3/334, số 2155, và Al-Haithami đã thẩm định chuỗi truyền tin của nó là tốt (Jayyid) trong Majma' Az-Zawaid, 10/210, và Al-Albani đã xếp nó vào loại tốt (Hasan) trong Sahih Al-Jami', số 5902, 5/242.
89- ((Ol lo hum magh fir li zdam bi, wa was se' li fi đa ri, wa ba rik li fi ma ro zaq ta ni - Lạy Allah, xin hãy tha thứ tội lỗi của bề tôi, mở rộng nhà cửa cho bề tôi và ban phước lành cho những bổng lộc mà Ngài đã ban cho bề tôi.))[52] [52] Ahmad ghi số 16599, 23114, 23188, và At-Tirmizdi ghi số 3500, và các nhà thẩm định của Musnad nói trong 27/144, và trong 38/197, và trong 38/145: Hasan Lighayrihi.
90- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka min fađ li ka wa roh ma ti ka, fa in na hu la dâm li ku ha il la an ta - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi sự nhân từ và lòng thương xót, vì không ai sở hữu chúng ngoại trừ Ngài.))[53]. [53] Do At-Tabari ghi. Al-Haithami nói trong Majma'uz Zawaid, quyển 10, trang 159: Những người đàn ông của ông là Sahih, ngoài Muhammad bin Ziyad là trung thực, và được Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Al-Jami', 1/404, số 1278.
91- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal ha rom, wat ta rod đi, wal hađ mi, wal ghom mi, wal gho ro ci, wal ha ro ci, wa a 'u zdu bi ka ây da ta khob ba to nish shây ton 'in đal mâu ti, wa a 'u zdu bi ka an a mu ta fi sa bi li ka muđ bi ro, wa a 'u zdu bi ka an a mu ta la đi gho - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi tuổi già, khỏi rơi xuống sự hủy diệt, khỏi nỗi ưu phiền, khỏi sự chết đuối và bị thiêu đốt. Bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi việc bị Shaytan nhập vào lúc lâm chung. Bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi việc chết như kẻ phản bội trên con đường của Ngài. Bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi cái chết do những thứ độc hại cắn, đốt (như rắn, bọ cạp ...).))[54] (54) Do Abu Dawood ghi số (1552), và An-Nasa-i' ghi số (5531) và số (5532), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i' số (3/1123), và trong Sahih Sunan Abu Dawood số (1/425).
92- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min jua', fa in na hu bi' sađ đo je', wa a 'u zdu bi ka mi nal khi da nah, fa in na ha bi' sa til bi to nah - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi cơn đói, vì nó là chiếc giường ngủ xấu xa. Bề tôi cầu xin Ngài che chở sự phản bội, vì đó là một tấm chăn đắp xấu xa.)) [55] [55] Do Abu Dawood ghi số (1547), và An-Nasa-i’ ghi số (5483), và Al-Albani cho là tốt trong Sahih An-Nasa'i, 3/1112.
93- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal 'aj zi, wal ka sal, wal ju bun, wal bu khul, wal ha râm, wal cos wah, wal ghaf lah, wal ây lah[56], wazd zdil lah, wal mas ka nah, wa a 'u zdu bi ka mi nal foc ri, wal kuf ri, wal fu su ci, wash shi co co, wan ni fa ci, was sum a ti, war ri da', wa a 'u zdu bi ka mi nas so mâm, wal ba kâm, wal ju nun, wal ju zdam, wal ba ros, wa sây di il as com - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự bất lực, lười biếng, hèn nhát, keo kiệt, lú lẫn, tàn ác, vô tâm, nghèo đói, sự sỉ nhục và khốn cùng. Bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự nghèo đói, sự hoài nghi, sự vô đức tin, vô đạo đức, sự giả tạo, sự phô trương. Bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi bệnh điếc, câm, điên, phong, bạch biến và mọi bệnh tật ác tính.)) [56] [56] An-Nasa-i' ghi số 5493, Al-Hakim ghi số 1/530, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Jami'a số 1/406 và trong Irwa' Al-Ghalil số 852.
94- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal fâc ri, wal cil lah, wal zdil lah, wa a 'u zdu bi ka min an azh li ma âu uzh la ma - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự nghèo đói, thiếu thốn và sự thấp hèn. Bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh khỏi sự áp bức hoặc bị áp bức.)) [57] (57) Do Abu Dawood ghi số 1544, và An-Nasa-i' ghi số 5475, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i' số 3/1111, và trong Sahih Al-Jami'a số 1/407, còn phần trong ngoặc vuông là của Ibnu Hibban (Mawarid), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Mawarid Al-Dham'aan số 2/455.
95- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min ja ris su i fi đa ril mu co mah; fa in na ja rol ba đi da ti da ta hâu wal - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi người hàng xóm xấu xa trong nơi định cư; quả thật, người hàng xóm nơi tạm trú rồi sẽ không còn.))[58]. [58] Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad, số (117), và Al-Hakim ghi số (1/532), xác thực Sahih và được Az-Zahabi đồng thuận, và An-Nasa'i ghi số (5517), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Jami'a, số (1/408), và trong Sahih An-Nasa'i, số (3/1118).
96- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min col bin la dakh sha', wa min đu a in la dus ma', wa min naf sin la tash ba', wa min il min la dan fa', a 'u zdu bi ka min ha u la il ar ba'- Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi trái tim không kính sợ Ngài, lời cầu xin không được chấp nhận, linh hồn không bao giờ biết thỏa mãn, và kiến thức không mang lại lợi ích. Bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi bốn điều này.))[59] (59) At-Tirmizdi, số 3482, và Abu Dawood, số 1549, được Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Al-Jame', số 1295, và trong Sahih An-Nasa-i', số 3/1113.
97- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min dâu mis su', wa min lây la tis su', wa min sa a tis su', wa min so hi bis su', wa min ja ris su' fi đa ril mu co mah - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi ngày xấu, đêm xấu, giờ xấu, bạn đồng hành xấu và hàng xóm xấu trong nơi định cư.)[60]. [60] At-Tabarani ghi, và Al-Haithami nói trong Az-Zawaid, 10/144: ((và những người truyền của nó là những người truyền của Sahih)). Và được Al-Albani xác thực là Hasan trong Sahih Al-Jami', 1/411, số 1290.
98- ((Ol lo hum ma in ni as a lu kal jan nah wa as ta ji ru bi ka mi nan nar - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi Thiên Đàng và bề tôi cầu xin Ngài bảo vệ khỏi Hỏa Ngục.)) (ba lần)[61]. [61] Do At-Tirmizdi ghi lại, số 2572; Ibn Majah, số 3340; và An-Nasa’i, số 5536. Al-Albani đã xác thực là Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 2/319, và Sahih An-Nasa’i, 3/1121. Lời Hadith như sau: ((Ai cầu xin Allah ban cho Thiên Đàng ba lần thì Thiên Đàng sẽ nói: Lạy Allah, xin Ngài hãy thu nhận y vào Thiên Đàng. Và ai cầu xin được che chở khỏi Hỏa Ngục ba lần thì Hỏa Ngục sẽ nói: Lạy Allah, xin Ngài hãy che chở y khỏi Hỏa Ngục)).
99- ((Ol lo hum ma fac cih ni fiđ đin - Lạy Allah, xin Ngài ban cho bề tôi sự hiểu biết về tôn giáo.))[62]. [62] Lời thuật của Al-Bukhari và Muslim về lời cầu xin của Nabi ﷺ cho Ibnu 'Abbas chứng minh cho điều này. Al-Bukhari, số (143), và Muslim, số (2477).
100- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka an ush ri ka bi ka wa a na 'a lâm, wa as tagh fi ru ka li ma la 'a lâm - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi việc bề tôi Shirk với Ngài trong lúc bề tôi biết, và bề tôi cầu xin Ngài tha thứ cho những điều bề tôi không biết.))[63]. [63] Ahmad ghi, 4/403, Ibnu Abi Syaibah, 10/337, và At-Tabrani trong Al-Mu'jam Al-Awsat, 4/284, được Al-Albani xác thực Hasan trong Sahih At-Targhib và At-Tarhib, 1/19.
101- ((Ol lo hum man fa' ni bi ma al lâm ta ni, wa al lâm ni ma danh fa 'u ni, wa zid ni il man) Lạy Allah, xin Ngài hãy làm cho bề tôi - được hưởng lợi từ những gì mà Ngài đã dạy cho bề tôi, và xin Ngài hãy dạy cho bề tôi những gì có lợi cho bề tôi, và xin Ngài hãy gia tăng kiến thức cho bề tôi))[64]. [64] At-Tirmizdi ghi số (3599), và Ibnu Majah ghi số (259), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibnu Majah, 1/47.
102- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka il man na fi a, wa riz conh toi di ba, wa a ma lan mu ta câb ba la - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi kiến thức bổ ích, bổng lộc tốt lành và những việc làm được chấp nhận.)) [65] [65] Do Ibnu Majah ghi số (925), An-Nasa-i' ghi trong 'Amal Al-Yaum wa Al-Lailah số (102), và Ahmad ghi số (6/294, 305), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibnu Majah số (1/152).
103- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka da ol loh bi an na kal wa hi đul a ha đus so mađ, al la zdi lâm da liđ wa lâm du lađ wa lâm da kul la hu ku fu wan a hađ, an tagh fi ro li zdu nu bi, in na ka an tal gho fu rur ro him - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài, lạy Allah, vì Ngài là Đấng Duy Nhất, Đấng Tựu Hữu, Đấng không sinh ra cũng không được sinh ra, và không có ai sánh bằng, hãy tha thứ tội lỗi cho bề tôi. Quả thật, Ngài là Đấng hằng tha thứ và rất mực thương xót.))[66]. [66] An-Nasa-i' ghi số 1300, và lời của ông, An-Nasa-i' ghi trong Al-Kubra số 7665, và Abu Dawood ghi số 985, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Sunan An-Nasa-i' số 1/147.
104- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka bi an na la kal hâm đa, la i la ha il la an ta, wah đa ka la sha ri ka lak, al man nan, da ba đi 'as sa ma wa ti wal arđ, da zdal ja la li wal ik ram, da hây du da coi dum, in ni as a lu kal jan nah, wa a 'u zdu bi ka mi nan nar - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài, rằng mọi lời ca ngợi đều dành cho Ngài, không có Thượng Đế nào khác ngoài Ngài, Ngài là Đấng Duy Nhất, không có đối tác, Ngài là Đấng ban ơn, là Đấng sáng tạo nên trời và đất, là Đấng sở hữu sự uy nghiêm và danh dự, là Đấng Hằng Sống, là Đấng Tự Duy Trì. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi Thiên Đàng và bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh khỏi Hỏa Ngục.))[67] (67) Abu Dawood ghi số 1495, Ibnu Maajah ghi số 3858, An-Nasa-i' ghi số 1299, và At-Tirmizdi ghi số 3544, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i', 1/279, và trong Sahih Ibnu Maajah, 2/329.
105- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka bi an ni ash ha đu an na ka an tol loh, la i la ha il la an ta, al a hađ, as so mađ, al la zdi lâm da liđ wa lâm du lađ wa lâm da kul la hu ku fu wan a hađ - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài, rằng bề tôi chứng nhận Ngài là Allah, không có Thượng Đế nào khác ngoài Ngài, Ngài là Đấng Duy Nhất, Đấng Tựu Hữu, Đấng không sinh ra cũng không được sinh ra, và là Đấng mà không có ai sánh bằng.))[68] [68] Abu Dawood, số 985, At-Tirmizdi, số 3475, Ibn Majah, số 3857, Ahmad 5/360, và Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Sunan At-Tirmizdi, 3/163.
106- ((Rab bigh fir li, wa tub a lây da, in na ka an tat tâu wa bul gho fur - Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho bề tôi và chấp nhận sự sám hối của bề tôi, Ngài là Đấng chấp nhận sự sám hối, Đấng hằng tha thứ.))[69]. [69] Abu Dawood ghi số (1518), At-Tirmizdi ghi số (3434) và lời của ông, An-Nasa-i’ ghi trong (Al-Kubra) số (10292), và Ibnu Maajah ghi số (3814), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibnu Maajah, 2/321, và trong Sahih At-Tirmizdi, 3/153.
107- {Ol lo hum ma bi il mi kal ghaib, wa cuđ ro ti ka a lal khol ci, ah di ni ma 'a lim tal ha da ta khoi ran li, wa ta waf fa ni i zda 'a lim tal wa fa ta khoi ran li, Ol lo hum ma in ni as a lu ka khosh da ta ka fil ghoi bi wash sha ha đah, wa as a lu ka ka li mal hoc ci fir ri đo wal gho đob, wa as a lu kal cos đa fil ghi na wal fâc ri, wa as a lu ka na 'i man la dan fa đu, wa as a lu ka cur ro ta 'ai nin la tan co te', wa as a lu kar ri đo a ba' đal co đo i, wa as a lu ka bar đal ây shi ba' dal mâu ti, wa as a lu ka lazd zda tan na zho ri i la waj hi ka, wash shâu co i la li co i ka, fi ghoi ri đar ro a mu đir roh, wa la fit na tin mu đil lah, Ol lo hum ma zay yin na bi zi na til i man, waj 'al na hu đa tan muh ta đin. - Lạy Allah, với kiến thức của Ngài về những điều vô hình và quyền năng của Ngài trên sự sáng tạo, xin giữ bề tôi sống khi Ngài biết cuộc sống là tốt cho bề tôi, và xin Ngài cho bề tôi chết khi Ngài biết rằng cái chết là tốt cho bề tôi. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi lòng kính sợ Ngài thầm kín và công khai. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi lời nói thật trong những lúc hài lòng cũng như lúc tức giận. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho sự điều độ trong giàu có và nghèo đói. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho hạnh phúc bất tận. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho niềm vui bất tận. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho sự mãn nguyện sau sự phán xét. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho một cuộc sống tươi đẹp sau khi chết. Bề tôi cầu xin Ngài ban cho niềm vui được chiêm ngưỡng khuôn mặt của Ngài, và sự khao khát được gặp Ngài một cách không có sự đau khổ hay cám dỗ lầm lạc nào. Lạy Allah, xin Ngài trang hoàng cho bầy tôi bằng vẻ đẹp của đức tin, và xin Ngài biến bầy tôi thành những người hướng dẫn được hướng dẫn.} [70] (70) An-Nasa-i', số (1305), và Ahmad, số (4/264), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i', số (1/280, 1/281).
108- ((Ol lo hum mar zuc ni hub ba ka, wa hub ba man dan fa 'u ni hub bu hu in đa ka, Ol lo hum ma ma ro zâc ta ni mim ma u hib bu, faj 'al hu cu wa tan li fi ma tu hib bu, Ol lo hum ma ma za wây ta 'an ni mim ma u hib bu, faj 'al hu fa ro ghan li fi ma tu hib bu – Lạy Allah, xin Ngài ban cho bề tôi tình yêu dành cho Ngài và tình yêu dành cho những người mà tình yêu của họ mang lại lợi ích cho bề tôi ở nơi Ngài. Lạy Allah, bất cứ bổng lộc nào Ngài ban cho bề tôi từ những thứ mà bề tôi yêu thích, xin hãy biến nó thành sức mạnh cho bề tôi vào những điều Ngài yêu thích. Lạy Allah, bất cứ điều gì Ngài đã không ban cho bề tôi từ những gì bề tôi yêu thích, xin Ngài làm cho bề tôi không nghĩ ngợi đến nó để bề tôi tập trung vào những gì Ngài yêu thích.))[71]. [71] At-Tirmizdi ghi số 3491, và nói nó Hasan. Và Sheikh Abdul Qadir Al-Arnaut nói: ((Và nó đúng như ông đã nói)). Xem thẩm định của ông cho Jami’ Al-Usul, 4/341.
109- ((Ol lo hum ma tô hir ni mi nađ đu nu bi wal kho to da, Ol lo hum ma nâc ci ni min ha ka ma du nâc co ath thâu bul ab da đu mi nađ đa nas, Ol lo hum ma tô hir ni bith thal ji wal ba ro đi wal ma il ba riđ - Lạy Allah, xin hãy thanh tẩy bề tôi khỏi những tội lỗi. Lạy Allah, xin hãy thanh tẩy bề tôi khỏi chúng như tấm áo trắng được thanh tẩy khỏi bụi bẩn. Lạy Allah, xin hãy thanh tẩy bề tôi bằng tuyết, mưa đá và nước lạnh)) [72]. [72] Do Muslim ghi số (476) và An-Nasa-i ghi số (400).
110- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal bu khul, wal ju bun, wa su il 'u mu ri, wa fit na tis sođ ri, wa 'a zda bil câb ri. - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự keo kiệt, hèn nhát, cuộc sống khốn khổ, những thử thách trong lồng ngực và sự trừng phạt trong mộ.))[73]. [73] An-Nasa-i, số (5469), với lời văn: ((Nabi (saw) thường cầu xin che chở khỏi năm điều: Keo kiệt, sự hèn nhát, cuộc sống khốn khổ, những thử thách trong lồng ngực và sự trừng phạt trong mộ)), và Abu Dawood ghi lại, số (1539), và Al-Arnaout cho là Hasan trong Takhrij Jami’ Al-Usul, 4/363.
111- ((Ol lo hum ma rab ba jib ro il wa mi ka il, wa rab ba is ro fil, a 'u zdu bi ka min har rin nar, wa min 'a zda bil câb ri - Lạy Allah, Thượng Đế của Jibril và Mika-il, và Thượng Đế của Israfil, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi cái nóng của Hỏa Ngục và sự hành hạ của cõi mộ.))[74]. [74] An-Nasa-i' ghi số (1344), Ahmad ghi số (6/61) và Al-Bayhaqi trong Ad-Da'awat ghi số (109), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i số (3/1121) và bộ chuỗi Hadith Sahih số (1544).
112- ((Ol lo hum ma al him ni rush đi, wa a 'izd ni min shar ri naf si - Lạy Allah, xin Ngài truyền cảm hứng cho bề tôi về điều đúng đắn và bảo vệ bề tôi khỏi điều xấu xa trong tâm hồn bề tôi.))[75]. (75) At-Tirmizdi ghi số (3483), lời của học giả, (5/519), Ahmad ghi tương tự số (19992), (33/197), và Al-Hakim cũng ghi tương tự trong (1/510) và xác thực là Sahih, được Adz-Dzahabi đồng tình; các nhà thẩm định của Musnad đã nói về Hadith của Ahmad (33/197): ((Chuỗi Isnad của nó là Sahih theo điều kiện của hai Sheikh)), còn về lời Hadith của At-Tirmizdi thì Al-Albani cho là Da'if trong Da'if At-Tirmizdi, trang 397.
113- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka 'il man na fi 'a, wa a 'u zdu bi ka min il min la dan fa 'u - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi kiến thức có ích và cầu xin Ngài che chở khỏi những kiến thức vô ích.))[76]. (76) An-Nasa-i' ghi trong Al-Kubra, số (7867), và Ibnu Majah ghi số (3843), và được Al-Albani xác thực Hasan trong Sahih Sunan Ibnu Majah, (2/327), và lời của nó là: “Hãy cầu xin Allah ban cho kiến thức hữu ích, và hãy cầu xin Allah che chở khỏi kiến thức vô ích.”
114- ((Ol lo hum ma rab bas sa ma wa tis sab 'i, wa rab bal ar di, wa rab bal 'ar shil 'a zhim, rab ba na wa rab ba kul li shây in, fa li col hâb bi wan na wa, wa mun zi lat tâu ro ti wal in ji li wal fur co-n, a 'u zdu bi ka min shar ri kul li shây in an ta a khi zdu bi na si da ti hi. Ol lo hum an tal âu wa lu fa lây sa câb la ka shây un, wa an tal a khi ru fa lây sa ba' đa ka shây un, wa an tazh zho hi ru fa lây sa fâu co ca shây un, wa an tal ba ti nu fa lây sa đu na ka shây un, âc đi an nađ đin, wa agh ni na mi nal fâc ri - Lạy Allah, Thượng Đế của bảy tầng trời, Thượng Đế của trái đất, Thượng Đế của Ngai Vương Vĩ Đại, Chúa của bầy tôi và Thượng Đế của mọi thứ, Đấng chẻ hạt và hạt chà là, Đấng ban xuống Kinh Cựu Ước, Tân Ước và Qur'an, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi điều xấu của mọi thứ mà Ngài chế ngự và kiểm soát. Lạy Allah, Ngài là Đấng Đầu Tiên nên không có gì trước Ngài, và Ngài là Đấng Cuối Cùng nên không có gì sau Ngài, và Ngài là Đấng Hiển Hiện nên không có gì ở trên Ngài, và Ngài là Đấng ẩn giấu không có gì vượt quá Ngài, xin Ngài cho bầy tôi trả hết nợ, và làm cho bầy tôi trở nên giàu có từ sự nghèo khó.))[77]. [77] Do Muslim ghi số (2713) từ Hadith của Abu iroh.
115- ((Ol lo hum ma al lif bây na cu lu bi na, wa os lih zda ta bây na na, wah đi na su bu las sa lam, wa naj ji na mi nazh zhu lu ma ti i lan nur, wa jan nib nal fa wa hish ma zho ha ro min ha wa ma ba ton, wa ba rik la na fi as ma 'i na, wa âb so ri na, wa cu lu bi na, wa az wa ji na, wa zdur ri da ti na, wa tub a lây na, in na an tat tâu wa bur ro him, wa 'aj al na sha ki ri na li ni' ma tik, muth ni na bi ha 'a lây ka, co bi li na co bi lâyl laha, wa a tim mim ha 'a lây na - Lạy Allah, xin Ngài hợp nhất trái tim bầy tôi, cải thiện mối quan hệ của bầy tôi, hướng dẫn bầy tôi đến con đường bình an, cứu bầy tôi khỏi bóng tối đến ánh sáng, và giúp bầy tôi tránh xa những điều xấu, công khai và tiềm ẩn. Xin Ngài ban phước lành cho thính giác, thị giác, trái tim, vợ chồng và con cái của bầy tôi. Xin Ngài chấp nhận sự ăn năn sám hối của bầy tôi, vì Ngài là Đấng chấp nhận sự sám hối, là Đấng rất thương xót. Xin Ngài làm cho bầy tôi là những người biết ơn về những phước lành của Ngài, ngợi ca tán dương Ngài vì những phước lành đó, biết chấp nhận chúng, và xin Ngài hoàn thiện chúng cho bầy tôi.))[78]. (78) Abu Dawood ghi số (969), và Al-Hakim ghi số (1/265) lời của học giả, và ông nói: ((Sahih theo điều kiện của Muslim)), được Adz-Dzahabi đồng tình số (1/26), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad số (630).
116- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka khoi rol mas a lah, wa khoi rođ đu a', wa khoi ron na jah, wa khoi rol 'a mal, wa khoi roth tha wab, wa khoi rol ha da ti, wa khoi rol ma ma ti, wa thâb bit ni, wa thâc cil ma wa zi ni, wa hoc cic i ma ni, war fa' đa ro ja ti, wa ta câb bal so la ti, wagh fir kho ti a ti, wa as a lu kađ đa ro ja til 'u la mi nal jan nah. Ol lo hum ma in ni as a lu ka fa wa ti hal khoir, wa kho wa ti ma hu, wa ja wa mi 'a hu, wa aw wa la hu, wa zho hi ro hu, wa ba ti no hu, wađ đa ro ja til 'u la mi nal jan nah, a min. Ol lo hum ma in ni as a lu ka khoi ro ma a ti, wa khoi ro ma af 'al, wa khoi ro ma 'a mal, wa khoi ro ma ba ton, wa khoi ro ma zho har, wađ đa ro ja til 'u la mi nal jan nah, a min. Ol lo hum ma in ni as a lu ka anh tar fa 'a zdik ri, wa ta đo 'a wiz ri, wa tus li ha am ri, wa tu toh hi ro qol bi, wa tu has si na far ji, wa tu naw wi ro qol bi, wa tagh fi ro li zdam bi, wa as a lu kađ đa ro ja til 'u la mi nal jan nah, a min. Ol lo hum ma in ni as a lu ka an tu ba ri ka fi naf si, wa fi sâm 'i, wa fi ba so ri, wa fi ru hi, wa fi khol ci, wa fi khu lu ci, wa fi ah li, wa fi mah da da, wa fi ma ma ti, wa fi 'a ma li, fa ta câb bal ha sa na ti, wa as a lu kađ đa ro ja til 'u la mi nal Jan nah, a min - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi những lời cầu xin tốt đẹp nhất, những lời cầu nguyện tốt đẹp nhất, những thành công tốt đẹp nhất, những việc làm tốt đẹp nhất, những phần thưởng tốt đẹp nhất, cuộc sống tốt đẹp nhất và cái chết tốt đẹp nhất. Xin Allah làm vững chắc bề tôi, làm cho cân của bề tôi nặng hơn, xin Ngài chứng thực đức tin của bề tôi, nâng cao cấp độ của bề tôi, chấp nhận lời cầu nguyện của bề tôi, tha thứ tội lỗi của bề tôi, và bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi những cấp bậc cao nhất ở Thiên Đàng. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài sự khởi đầu của mọi điều tốt lành, sự kết thúc của nó, sự toàn diện của nó, sự ban đầu của nó, sự biểu hiện bên ngoài của nó, và sự ẩn giấu bên trong của nó, và những cấp bậc cao nhất ở Thiên Đàng. Amin. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi điều tốt nhất mà bề tôi đã đạt được, điều tốt nhất mà bề tôi làm, điều tốt nhất mà bề tôi hành động, điều tốt nhất mà bề tôi chưa biết, điều tốt nhất mà bề tôi thấy rõ và những cấp bậc cao nhất trong Thiên Đàng. Amin. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài nâng cao tên tuổi của bề tôi, xóa bỏ gánh nặng tội lỗi của bề tôi, sửa lại mọi việc cho bề tôi, thanh tẩy trái tim của bề tôi, bảo vệ sự trong sạch của bề tôi, soi sáng trái tim của bề tôi, tha thứ tội lỗi cho bề tôi, và bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi những cấp bậc cao nhất ở Thiên Đàng. Amin. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban phước lành cho linh hồn, thính giác, thị giác, tinh thần, sự sáng tạo, tính cách, gia đình, cuộc sống, cái chết và những việc làm của bề tôi. Xin Ngài chấp nhận những việc làm tốt của bề tôi và bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi nơi cao nhất trong Thiên Đàng. Amin.))[79]. [79] Do Al-Hakim ghi số (1/520) và xác thực Sahih, được Al-Dzahabi đồng tình (1/520), Al-Baihaqi ghi trong Ad-Da'awat, số 225, và Tt-Tabra-ni ghi trong Al-Kabeer, (23/326), số 717.
117- ((Ol lo hum ma jan nib ni mun ka ro til akh la ci, wal ah wa', wal 'a mal, wal ađ wa' - Lạy Allah, xin Ngài bảo vệ bề tôi khỏi những hành vi, ham muốn, thói hư tật xấu và bệnh tật.))[80]. (80) Al-Hakim ghi số (1/523), và nói: “Sahih theo điều kiện của Muslim”, được Az-Zahabi đồng tình (1/532), và At-Tabrani ghi trong Al-Mu'jam Al-Kabeer (19/19), số 36, và được Al-Albani xác thực là Sahih trong Zhilal Al-Jannah, số (13).
118- ((Ol lo hum ma con ne' ni bi ma ro zâc ta ni, wa ba rik li fih, wakh luf 'a lây da kul la gho i ba tin li bi khoi rin - Lạy Allah, xin Ngài làm cho bề tôi hài lòng với những gì Ngài đã ban cho bề tôi, ban phước lành cho bề về chúng, và thay thế mọi thứ bề tôi còn thiếu bằng thứ gì đó tốt hơn.))[81]. [81] Al-Hakim ghi, 1/532, và xác thực là Sahih, được Ad-Dhahabi đồng tình, 1/510, Al-Baihaqi ghi trong Al-Adab, số 1084, và trong Ad-Da'awat Al-Kabir, 211, và được Al-Hafiz Ibnu Hajar xác nhận là Hasan trong Al-Futuhat Ar-Rabbaniyah, 4/383.
119- ((Ol lo hum ma ha sib ni hi sa ban da si ro - Lạy Allah, xin Ngài phán xét bề tôi bằng một sự phán xét dễ dàng.))[82]. [82] Do Ahmad ghi, số (6/48), và Al-Hakim, số (1/255), và nói: “Sahih theo tiêu chuẩn của Muslim”, và Az-Zahabi đã đồng tình, số (1/255). ‘A-ishah thuật lại: Khi Người rời đi, tôi hỏi: “Thưa Nabi của Allah, cuộc thanh toán dễ dàng là gì?” Người đáp: “Đó là việc Ngài nhìn vào sổ sách của y rồi bỏ qua cho y. Hỡi ‘A-ishah, ai bị tra hỏi kỹ lưỡng về cuộc thanh toán vào Ngày đó thì chắc chắn sẽ bị hủy diệt. Và tất cả những gì xảy đến với người có đức tin, Allah sẽ dùng nó để bôi xóa tội lỗi cho y, ngay cả một cái gai đâm phải y.” Và học giả Al-Albani nói về nó trong Mishkat Al-Masabih: “Và đường truyền của nó tốt.”
120- ((Ol lo hum ma a 'in na 'a la zdik ri ka, wa shuk ri ka, wa hus ni 'i ba đa ti ka - Lạy Allah, xin Ngài giúp chúng bề tôi nhớ đến Ngài, biết ơn Ngài và thờ phượng Ngài một cách tốt đẹp.))[83]. [83] Ahmad ghi số (2/299), và Al-Hakim ghi số (1/499) và đã xác thực Sahih, được Az-Zahabi đồng tình và đúng như lời của hai vị đã nói, Abu Dawood ghi số (1524), An-Nasa-i ghi trong Al-Kubra, số (9973), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad, số (534).
121- ((Ol lo hum ma in ni as a lu ka i ma nal la dar tađ, wa na i mal la dan fad, wa mu ro fa co ta mu ham ma đin sol lol lo hu a lây hi wa sal lâm fi 'a la jan na til khul đi - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi đức tin không lay chuyển, ân huệ không bao giờ kết thúc và sự đồng hành với Muhammad ﷺ ở nơi cao nhất của Thiên Đàng.))[84] [84] Do Ibnu Hibban ghi trong (Mawarid), trang 604, số 2436, từ Ibnu Mas'ud dưới dạng Mawquf, Ahmad ghi từ một đường truyền khác, 1/386, 400, và An-Nasa'i ghi trong ‘Amal Al-Yawm wa Al-Laylah, số 869, được Al-Albani xác thực Hasan trong As-Silsilah As-Sahihah, dưới số 2301.
122- ((Ol lo hum ma ci ni shar ri naf si, wa' zim li 'a la ar sha đi âm ri. Ol lo hum magh fir li ma as rar tu, wa ma 'a lanh tu, wa ma akh to' tu, wa ma 'a mađ tu, wa ma 'a mil tu, wa ma ja hil tu - Lạy Allah, xin Ngài bảo vệ bề tôi khỏi điều xấu xa trong linh hồn bề tôi và giúp bề tôi quyết tâm làm điều công chính. Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho bề tôi về những điều bề tôi đã giữ bí mật, những điều bề tôi đã công khai, những điều bề tôi đã sai lầm, những điều bề tôi đã cố ý làm, những điều bề tôi đã biết và những điều bề tôi đã không biết.))[85]. (85) An-Nasa-i' ghi trong Al-Kubra, (6/246), số (10830), và Al-Hakim ghi số (1/510) và xác thực Sahih, được Az-Zahabi đồng tình, và Ahmad ghi số (4/444), và nó có trong Al-Musnad Al-Muhaqqaq, (33/197), số (19992), Al-Hafiz nói trong Al-Isabah: “Isnad của nó là Sahih”, và được Al-Albani xác thực Sahih trong Takhrij Riyadh As-Salihin, trong phần bình luận về Hadith số (1495).
123- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min gho la ba tid dain, wa gho la ba til 'a đu, wa sha ma ta til 'a đa' - Lạy Allah, quả thật bề tôi cầu xin Ngài che chở tránh khỏi nợ nần bủa vây, khỏi sự chiếm ưu thế của kẻ thù và sự hả hê của kẻ thù.))[86] [86] An-Nasa-i' ghi số 5475, và Ahmad ghi số 2/173, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih An-Nasa-i', số 3/1113.
124- ((Ol lo hum magh fir li, wah đi ni, war zuc ni, wa 'a fi ni, a 'u zdu bil la hi min đi cil ma co mi dâu mal ci da mah - Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho bề tôi, hướng dẫn bề tôi, ban bổng lộc cho bề tôi và ban cho bề tôi sự bình an. Bề tôi cầu xin Allah che chở khỏi hoàn cảnh khốn cùng vào Ngày Phục Sinh.))[87]. [87] An-Nasa’i, số (1617), và Ibnu Majah, số (1356), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Sunan An-Nasa-i, 1/356, và trong Sahih Ibnu Majah, 1/226.
125- ((Ol lo hum ma mat te' ni bi sâm 'i, wa ba so ri, waj 'al hu mal wa ri tha min ni, wan sur ni 'a la mây dazh li mu ni, wa khuzd min hu bi tha' ri - Lạy Allah, xin Ngài làm cho bề tôi hưởng thụ với thính giác và thị giác của bề tôi, và xin Ngài làm cho chúng trở thành người thừa kế của bề tôi. Xin Ngài phù hộ bề tôi chống lại những kẻ áp bức và xin Ngài thay bề tôi đáp trả họ)) [88]. [88] At-Tirmizdi ghi số (3681), Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad số (650), và Al-Hakim ghi số (1/523), xác thực Sahih và được Adh-Dhahabi đồng tình, và được Al-Albani xếp loại Hasan trong Sahih At-Tirmizdi (3/188).
126- ((Ol lo hum in ni as a lu ka 'i sha tanh na ci dah, wa mây ta tanh sa wi dah, wa ma rođ đanh ghoi ro mukh zin, wa la fa đih - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài ban cho bề tôi một cuộc sống trong sạch, một cái chết tốt đẹp và một sự trở về không xấu hổ hay nhục nhã.))[89]. [89] Al-Hakim ghi (1/541), Zawa-id Musnad Al-Bazzar (2/442) số (2177), và At-Tabarani trong Ad-Du'a số (1435), Al-Haithami nói trong Mujma' Az-Zawa-id (10/179): “Isnad của At-Tabarani tốt”.
127- ((Ol lo hum ma la kal hâm đu kul lu hu, Ol lo hum ma la qo bi đô li ma ba sat ta, wa la ba si to li ma qo bôd ta, wa la ha đi ya li man ôd lal ta, wa la mu đil la li man ha đây ta, wa la mu' ti ya li ma ma na' ta, wa la ma ni 'a li ma a' toy ta, wa la mu qar ri ba li ma ba ad ta, wa la mu ba 'i đa li ma qar rab ta, Ol lo hum mab sut 'a lây na min ba ro ka ti ka, wa roh ma ti ka, wa fôd li ka, wa riz qi ka, Ol lo hum ma in ni as a lu kan na i mal mu qi mal la zdi la ya hu lu wa la ya zu lu, Ol lo hum ma in ni as a lu kan na i ma yâu mal ây la ti, wal âm na yâu mal khaw fi, Ol lo hum ma in ni a' i đun bi ka min shar ri ma a' toy ta na wa shar ri ma ma na' ta na, Ol lo hum ma hâb bib i lây nal i ma na wa zi yin hu fi qu lu bi na, wa kar rih i lây nal kuf ro wal fu su qa, wal is ya na, waj al na mi nar ro shi đi na, Ol lo hum ma ta waf fa na mus li mi na, wa ah yi na mus li mi na, wa al hiq na bis so li hi na ghoi ro kho za ya wa la maf tu ni na, Ol lo hum ma qa ti lil ka fa ro tal la zdi na yu kazd zdi bu na ru su la ka, wa ya sud đu na an sa bi li ka, waj al a' lây him rij za ka wa a' zda ba ka, Ol lo hum ma qa til ka fa ro tal la zdi na 'u tul ki ta ba, i la hal haq qi - Lạy Allah, tất cả mọi lời ca tụng tán dương đều thuộc về Ngài. Lạy Allah, không ai có thể thu lại những gì Ngài đã ban ra, và không ai có thể ban ra những gì Ngài đã thu lại; không ai có thể hướng dẫn người mà Ngài đã làm cho lầm lạc, và không ai có thể làm cho lầm lạc người mà Ngài đã hướng dẫn; không ai có thể ban cho những gì Ngài đã ngăn cấm, và không ai có thể ngăn cản những gì Ngài đã ban cho; không ai có thể mang lại gần những gì Ngài đã làm cho xa, và không ai có thể làm cho xa những gì Ngài đã mang lại gần. Lạy Allah, xin Ngài hãy ban rộng xuống cho bầy tôi từ hồng phúc của Ngài, lòng thương xót của Ngài, ân huệ của Ngài và bổng lộc của Ngài. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài niềm hạnh phúc vĩnh hằng không bao giờ thay đổi và cũng không bao giờ mất đi. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài niềm hạnh phúc trong ngày túng thiếu, và sự an toàn trong ngày sợ hãi. Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi điều xấu của những gì Ngài đã ban cho bầy tôi và điều xấu của những gì Ngài đã ngăn cản bầy tôi. Lạy Allah, xin Ngài hãy làm cho bầy tôi yêu mến đức tin (Iman) và hãy trang hoàng nó trong trái tim của bầy tôi, và hãy làm cho bầy tôi ghét bỏ sự vô đức tin, sự dấy loạn và sự bất tuân, và xin Ngài hãy cho bầy tôi được thuộc trong số những người được hướng dẫn đúng đường. Lạy Allah, xin Ngài hãy cho bầy tôi được nhắm mắt là người Muslim, và cho bầy tôi được sống là người Muslim, và xin Ngài hãy cho bầy tôi được tham gia cùng với những người ngoan đạo mà không phải chịu sự tủi nhục và cũng không bị thử thách (cám dỗ). Lạy Allah, xin Ngài hãy trừng phạt những kẻ vô đức tin, những kẻ đã phủ nhận các Sứ giả của Ngài và ngăn cản (người khác) khỏi con đường của Ngài, và xin Ngài hãy giáng lên chúng sự phẫn nộ và hình phạt của Ngài. Lạy Allah, xin Ngài hãy trừng phạt những kẻ vô đức tin thuộc đám người được ban cho Kinh Sách, hỡi Thượng Đế của sự thật [Amin]))[90]. [90] Ahmad, 3/424, và 24/246, số 15492, và phần trong ngoặc vuông là của Al-Hakim, 1/507, 3/23-24, và Al-Bukhari ghi trong Al-Adab Al-Mufrad, số 699, được Al-Albani xác thực Sahih trong Takhrij Fiqh As-Sirah, tr. 284, và trong Sahih Al-Adab Al-Mufrad, số 538, tr. 259.
128- ((Ol lo hum magh fir li, war hâm ni, wah đi ni, wa 'a fi ni, war zuc ni - Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho bề tôi, thương xót bề tôi, hướng dẫn bề tôi, ban cho bề tôi sự bình an và ban bổng lộc cho bề tôi))[91]. [91] Muslim, số 2696, và 2697, và trong một lời thuật của Muslim: ((Quả thật, những lời này bao gồm cho ngươi cả trần thế lẫn Đời Sau của ngươi)), và trong Sunan Abu Dawood, số 850: ((Khi người du mục Ả Rập kia quay đi, Nabi ﷺ nói: ((Quả thật y đã lấp đầy đôi tay của mình bằng điều tốt lành)).
((... waj bur ni, war fa' ni - Xin hãy bù đắp cho bề tôi, và nâng bề tôi lên))[92]. [92] Xem: Sunan Ibnu Majah, số 898, Sunan At-Tirmizdi, số 284, Sahih Ibnu Majah, 1/148, và Sahih At-Tirmizdi, 1/90.
129- ((Ol lo hum ma zid na wa la tan qus na, wa ak rim na wa la tu hin na, wa a' ti na wa la tah rim na, wa a thir na wa la tu' thir 'a lây na, war đi na war đo 'an na - Lạy Allah, xin Ngài ban thêm cho bầy tôi và đừng làm suy giảm, xin Ngài vinh danh bầy tôi và đừng hạ nhục, xin Ngài ban cho bầy tôi và đừng cấm đoán, xin Ngài ưu ái bầy tôi và đừng đặt ai khác lên trên bầy tôi, và xin Ngài làm cho bầy tôi bằng lòng và xin Ngài hài lòng với bầy tôi.))[93]. [93] At-Tirmizdi ghi số (5/326, 3173), Al-Hakim ghi số (2/98) và xác thực là Sahih, và được Sheikh Abdul Qadir Al-Arna'ut xác nhận là Hasan trong bản thẩm định Jami' Al-Usul, số (11/282, 8847).
130- ((Ol lo hum ma ah san ta khol qi fa ah sin khu lu qi - Lạy Allah! Ngài đã tạo ra hình hài của bề tôi tốt đẹp, xin Ngài hãy làm cho đạo đức của bề tôi được tốt đẹp))[94]. [94] Ahmad ghi số (6/68, 155, và 1/403), Ibnu Hibban ghi số (2423 – Mawarid), At-Tayalisi ghi số (374), Musnad Abi Ya'la ghi số (5075), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Irwa' Al-Ghalil, 1/115, số (74).
131- ((Ol lo hum ma thab bit ni waj al ni ha đi yan mah đi yan - Lạy Allah, xin Ngài hãy làm cho bề tôi kiên định và biến bề tôi thành người hướng đạo và được hướng đạo))[95]. [95] Điều này được chứng minh qua lời cầu xin của Nabi ﷺ dành cho Jarir. Xem: Al-Bukhari, Số 6333, cũng như các số 3020, 3036, và những số khác.
132- ((Ol lo hum ma in ni as a lu kath tha ba ta fil am ri, wal 'a zi ma ta 'a lar rush đi, wa as a lu ka mu ji ba ti roh ma ti ka, wa 'a za i ma magh fi ro ti ka, wa as a lu ka shuk ro ni' ma ti ka, wa hus na 'i ba đa ti ka, wa as a lu ka qol ban sa li man, wa li sa nan so đi qon, wa as a lu ka min khoi ri ma ta' lam, wa a 'u zdu bi ka min shar ri ma ta' lam, wa astagh fi ru ka li ma ta' lam, in na ka an ta 'al la mul ghu yub - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài sự kiên định trong mọi việc, và sự quyết tâm trên con đường đúng đắn. Bề tôi cầu xin Ngài những điều đạt được lòng thương xót của Ngài, những điều đạt được sự tha thứ của Ngài. Bề tôi cầu xin Ngài sự biết ơn đối với ân huệ của Ngài, và sự tốt đẹp trong việc thờ phượng Ngài. Bề tôi cầu xin Ngài một trái tim trong sạch và một chiếc lưỡi chân thật. Bề tôi cầu xin Ngài điều tốt đẹp nhất mà Ngài biết, và bề tôi xin Ngài che chở khỏi điều xấu xa mà Ngài biết, và bề tôi xin Ngài tha thứ cho những gì Ngài biết. Quả thật, Ngài là Đấng Toàn Tri những điều vô hình.)) [96]. (96) Ahmad ghi số (28/338, 17114), và (28/356, 17133), và At-Tirmizdi ghi số 3407, và At-Tabarani ghi trong Al-Mu'jam Al-Kabeer với lời của học giả, số 7135, 7157, 7175, 7176, 7177, 7178, 7179, và 7180, và Ibnu Hibban ghi trong Sahih của ông, 3/215, số 935, và 5/310, số 1974, và Shu'aib Al-Arna'ut xác thực Hasan trong Sahih Ibnu Hibban, 5/312, và các nhà nghiên cứu của Musnad xác thực Hasan qua các đường truyền của nó, 28/338, và Al-Albani đã đề cập nó trong bộ chuỗi Hadith Sahih tập thứ bảy, số 3228, và trong Sahih Mawarid Al-Zam'an, số 2416, và 2418, và ông nói: “Sahih Lighairihi”.
133- ((Ol lo hum ma in ni as a lu kal fir đâu sa a' lal jan nah - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài Firdaws, nơi cao nhất của Thiên Đàng.))[97] . [97] Trích từ lời của Nabi ﷺ: {…nếu các ngươi cầu xin Allah, hãy cầu xin Ngài Firdaws; bởi quả thật nó là trung tâm của Thiên Đàng, và là nơi cao nhất của Thiên Đàng, và bên trên nó là 'Arsh của Đấng Arrahman, và từ đó chảy ra các dòng sông của Thiên Đàng}. (Al-Bukhari, số 2790, và số 7423).
134- ((Ol lo hum ma jad đi đil i ma na fi qol bi - Lạy Allah, xin hãy làm mới lại đức tin trong con tim của bề tôi))[98]. [98] Trích từ Hadith của ‘Abdullah bin ‘Umar thuật lại rằng Thiên Sứ của Allah ﷺ đã nói: {Quả thật, đức tin Iman trong con tim của các ngươi bị phai dần giống như sự phai màu của chiếc áo. Vì vậy, hãy cầu xin Allah phục hồi đức tin lại trong tim của các ngươi.}. Do Al-Hakim ghi lại (1/4) và xác thực là Sahih, được Az-Zahabi đồng tình. Al-Haithami nói trong Majma’ Az-Zawa’id (1/52): “Do At-Tabarani ghi lại trong Al-Kabir, và Isnad của nó là Hasan.” Al-Albani cũng đánh giá nó là Hasan trong Silsilah Al-Aha'dith As-Sahihah, 4/113, số 1585.
135- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min so la tin la tan fa' - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi việc hành lễ Salah vô ích)) [99]. 136- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min ja ris su', wa min zâu jin tu shay yi bu ni qob lal ma shib, wa min wa la đin da ku nu 'a lây da rob ban, wa min ma lin da ku nu 'a lây da 'a zda ban, wa min kho li lin ma ki rin 'ây nu hu ta ro ni, wa qol bu hu yar 'o ni; in ro a ha sa na tan đa fa na ha, wa i dza ro a sây di a tan a dza 'a ha - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi người hàng xóm xấu xa, và khỏi người phối ngẫu làm bề tôi già trước tuổi, và khỏi đứa con trở thành chủ nhân của bề tôi, và khỏi của cải trở thành sự trừng phạt đối với bề tôi, và khỏi người bạn thân xảo quyệt có mắt dõi theo và tim rình rập bề tôi; nếu y thấy điều tốt thì chôn vùi nó, và nếu y thấy điều xấu thì rêu rao nó.))[100] [99] Abu Dawood, số (1549), và Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Sunan Abi Dawood, 1/424. [100] Al-Tabarani ghi trong Ad-Du'a, 3/1425, số 1339, và Al-Albani nói trong chuỗi Hadith Sahih, 7/377, số 3137: ((Tôi nói: Đây là một đường truyền tốt, tất cả những người truyền đều là những người được ghi lại trong sách At-Tahdzib...)).
137-((Ol lo hum ma la tukh zi ni yaw mal qi ya ma ta - Xin Ngài đừng hạ nhục bề tôi vào Ngày Phục Sinh)) [101]. [101] Ahmad ghi trong Musnad, quyển 29, trang 596, số 18056, và các nhà hiệu đính của Musnad xác nhận: “chuỗi truyền thuật là xác thực”, và do Al-Tabarani ghi trong Al-Mu’jam Al-Kabir, quyển 3, trang 20, số 2524 với lời: “Lạy Allah, xin đừng hạ nhục bề tôi vào Ngày Tận Thế, và xin đừng hạ nhục bề tôi vào ngày khốn khổ.”
138- ((Ol lo hum ma in ni as a lu kal mu 'a fa ta fiđ đun da wal a khi roh - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài sự bằng an ở đời này và Đời Sau.))[102] [102] Ibnu Majah ghi số 3851, và Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Ibnu Majah, 3/259, và trong Silsilah Al-Aha'dith As-Sahihah, số 1138.
139- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min 'il min la dan fa', wa 'a ma lin la dur fa', wa qol bin la dakh sha', wa qâu lin la dus ma' - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi kiến thức vô ích, khỏi việc làm không được chấp nhận, khỏi trái tim không kính sợ Ngài, và khỏi lời nói không được chấp nhận))[103]. (103) Ibnu Hibban ghi số (2440) (Mawarid), và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Mawarid Az-Zam'an, số (2/454), số (2066).
140- ((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal hâm mi wal ha za ni, wal 'aj zi wal ka sal, wal bukh li wal jub ni, wa đô la 'id đây ni, wa gho la ba tir ri jãl - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự đau khổ và buồn phiền, sự bất lực và lười biếng, sự keo kiệt và hèn nhát, gánh nặng nợ nần và sự áp bức của người khác))[104]. [104] Al-Bukhari, số 6363, Anas nói: “Tôi đã hầu hạ Sứ Giả của Allah ﷺ mỗi khi Người dừng chân, và tôi thường nghe Người nói nhiều lần: ‘Lạy Allah, quả thật bề tôi xin Ngài che chở...’.”
141-((Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka min 'a zda bin nar, wa a 'u zdu bi ka min 'a zda bil qabr, wa a 'u zdu bi ka mi nal fi ta ni ma zo ha ra min ha wa ma ba ton, wa a 'u zdu bi ka min fit na tiđ đaj jal - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự trừng phạt của Hỏa Ngục, khỏi sự trừng phạt trong cõi mộ, khỏi những thử thách công khai và giấu kín, và khỏi sự thử thách của Dajjal))[105]. [105] Muslim ghi lại, số 2867, trong đó có: ((Hãy cầu xin Allah che chở khỏi sự trừng phạt nơi Hỏa Ngục))..., [Hãy cầu xin Allah che chở khỏi sự trừng phạt nơi cõi mộ...] cho đến hết.
142- ((Al lo hum ma in ni as a lu ka sha ha đa tan fi sa bi lik - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài được chết Shahid trên con đường của Ngài)) [106]. [106] Muslim, số 1909, trích từ lời của Người ﷺ: “Ai thành tâm cầu xin Allah được chết Shahid, Allah sẽ ban cho người đó được danh hiệu Shahid ngay cả khi người đó chết trên giường của mình”.
143- ((Ol lo hum magh fir li, ol lo hum maj 'al ni dâu mal ci da mah fau co ka si rim min khal qi ka mi nan nas, ol lo hum magh fir li dzam bi, wa ad khil ni dâu mal ci da mah mud kho lan ka ri ma - Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho bề tôi. Lạy Allah, xin Ngài vào Ngày Phục Sinh hãy đặt bề tôi ở một vị thế cao hơn nhiều tạo vật người của Ngài. Lạy Allah, xin Ngài tha thứ cho tội lỗi của bề tôi, và xin Ngài vào Ngày Phục Sinh hãy thu nhận bề tôi vào một nơi ở tốt đẹp.))[107]. [107] Al-Bukhari, số 4323, và Muslim, số 2498, và nó được trích từ lời Du'a của Nabi ﷺ dành cho 'Ubaid Abi 'Amir, và từ lời Du'a của Người ﷺ dành cho Abu Burdah.
144- ((Ol lo hum mah đi ni fi man ha đây ta, wa 'a fi ni fi man a' fây ta, wa ta wal la ni fi man ta wal lây ta, wa ba rik li fi ma a' toy ta, wa qi ni shar ro ma qa đôi ta, in na hu la ya zdil lu man wa lây ta, ta ba rak ta rab ba na wa ta a' lây ta - Lạy Allah! Cầu xin Ngài hướng dẫn bề tôi cùng với những người mà Ngài đã hướng dẫn, cầu xin Ngài hãy ban những điều lành mạnh cho bề tôi cùng với những người mà Ngài đã ban cho, cầu xin Ngài hãy trông coi bề tôi cùng với những người mà Ngài đã trông coi, cầu xin Ngài hãy ban phúc cho bề tôi với những gì Ngài đã ban tặng và hãy bảo vệ bề tôi tránh mọi điều xấu xa mà Ngài đã định trước. Quả thật, không có điều gì có thể hạ thấp được những ai được Ngài tôn trọng. Thưa Thượng Đế của chúng tôi! Ngài là Đấng Tối Cao và ban mọi điều may mắn)).[108]. [108] Ahmad ghi lại trong Musnad, 3/249, số 1723, và các nhà thẩm định Musnad (3/249) nói: “Chuỗi truyền xác thực”. Đây là một lời thuật tổng quát, không giới hạn với lễ nguyện Salah Witir như trong lời thuật khác, vì trong lời thuật này, Anas đã nói: “Và Người đã dạy chúng tôi lời Du’a này…”.
145- ((Rab bigh fir li kha ti a ti yaw mad din - Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin hãy tha thứ tội lỗi cho bề tôi vào Ngày Phán Xét))[109]. [109] Muslim, số 214, có người đã hỏi Nabi ﷺ: Thưa Thiên Sứ của Allah, Ibnu Jud’an trong thời Jahiliyah (tiền Islam) đã gắn kết dòng tộc, nuôi ăn người nghèo, vậy những điều đó có lợi cho ông ta không? Người ﷺ đáp: {Không giúp ích gì cho y, bởi y đã chưa từng ngày nào cầu xin: Lạy Thượng Đế, xin hãy tha thứ tội lỗi cho bề tôi trong Ngày Tận Thế.}
146- ((As tagh fi rul lo hal a' dzi mal la zdi la i la ha il la hu wa, al hây dul qoi yu mu, wa 'a tu bu i lây hi - Bề tôi cầu xin Allah Vĩ Đại tha thứ mà không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Ngài, Đấng Sống Mãi, Bất Diệt và bề tôi nguyện sám hối với Ngài))[110]. [110] At-Tirmizdi ghi số (3577), được Al-Albani xác nhận Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 3/469: “Người nào đọc lời đó, Allah sẽ tha thứ cho y, dẫu cho y đã từng bỏ chạy khỏi trận chiến.”
147- ((Ol lo hum magh fir li dăn bi, wa adz hib ghoi dzo qol bi, wa a idz ni min mu đi lo til fi ta ni - Lạy Allah, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho bề tôi, và xin Ngài xóa tan sự tức giận trong lòng của bề tôi, và xin Ngài bảo vệ bề tôi khỏi những thử thách làm lầm lạc))[111]. [111] Được trích từ lời Du'a của Nabi ﷺ dành cho 'A-ishah: ((Lạy Allah, xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho nàng ấy, xóa tan sự tức giận trong lòng nàng ấy, và che chở nàng ấy khỏi những cám dỗ sai lầm)). Ibn 'Asakir ghi lại với chuỗi thuật lại của ông trong quyển ((Al-Arba'in fi Manaqib Ummahat Al-Mu'minin)), trang 85, từ lời thuật của bà 'A-ishah và ông nói: ((Đây là một Hadith Sahih Hasan, từ lời thuật của Baqiyyah bin Al-Waleed)), và Ibn As-Sunni cũng đã ghi lại một lời thuật tương tự trong quyển 'Amal Al-Yawm wa Al-Laylah, số 457, và trong một bản ghi khác của Ibn As-Sunni có ghi: ((Và xin hãy bảo vệ bề tôi khỏi Shaytan)) thay vì: ((khỏi những cám dỗ sai lầm)), và xem phần phân loại Hadith của Al-Albani trong quyển Ad-Da'ifah, số 4207. Và có một lời thuật hỗ trợ từ Umm Salamah do Ahmad ghi lại, số 26576, 44/2 với lời văn tương tự, lời thuật đó là: ((Nàng hãy nói: Lạy Allah, Thượng Đế của Muhammad vị Nabi, xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho bề tôi, xóa tan sự tức giận trong lòng bề tôi, và bảo vệ bề tôi khỏi những cám dỗ sai lầm chừng nào Ngài còn cho chúng bề tôi sống)), và Al-Haythami đã đánh giá là Hasan trong quyển Majma' Az-Zawa'id, 10/27, và nó được At-Tabarani ghi lại trong quyển Al-Mu'jam Al-Kabir, 23/338, số 785, nhưng không có cụm từ: ((chừng nào Ngài còn cho chúng bề tôi sống)). Và có một lời thuật hỗ trợ khác từ bà Umm Hani', bà nói: Thưa Thiên Sứ của Allah, xin Người hãy dạy cho tôi một lời Du'a để tôi cầu nguyện. Người nói: ((Nàng hãy nói: Lạy Allah, xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho bề tôi ...)) hết Hadith, do Al-Khara'iti ghi lại trong quyển I'tilal Al-Qulub, số 52, và Masawi' Al-Akhlaq, số 323.
148- ((Ol lo hum ma ah di ni a' la sun na ti na bi di ka sol lol lo hu a' lây hi wa sal lam wa ta waf fa ni a' la mil la ti hi, wa a idh ni min mu đil la til fi ta ni - Lạy Allah, xin Ngài làm cho bề tôi được sống theo Sunnah của Thiên Sứ của Ngài ﷺ, và xin Ngài cho bề tôi được chết trên tôn giáo của Người, và xin Ngài bảo hộ bề tôi khỏi những thử thách đưa đến lầm lạc))[112]. [112] Do Al-Bayhaqi ghi lại trong Al-Kubra, 5/95, từ lời cầu xin của Ibn 'Umar (được thuật lại dừng ở cấp Sahabah). Ibn Al-Mulaqqin đã trích dẫn điều này trong Al-Badr Al-Munir, 6/309, và nói, trích dẫn lời của Ad-Diya': ((Chuỗi truyền của nó tốt)). Và Ibn Mas'ud đã nói: ((Một người trong các ngươi đừng nên nói: Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự thử thách (Al-Fitnah), bởi vì không ai là không bị vướng vào thử thách; bởi vì Allah phán: {Quả thật tài sản và con cái của các ngươi là một sự thử thách} [chương At-Taghabun:15], cho nên ai trong các ngươi muốn cầu xin che chở thì hãy cầu xin Allah che chở khỏi những thử thách gây lầm lạc)), do Ibn Jarir ghi lại trong quyển Tafsir của ông, 13/475, số 15912, và Ibn Battal đã đề cập đến trong quyển chú giải Sahih Al-Bukhari của ông, 4/13.
149- ((Ol lo hum ma sol li 'a la mu ham mad, wa 'a la a li mu ham mad, ka ma sol lây ta 'a la ib ro him, wa 'a la a li ib ro him, in na ka ha mi đum ma jid, wa ba rik 'a la mu ham mad, wa 'a la a li mu ham mad, ka ma ba rak ta 'a la ib ro him, wa 'a la a li ib ro him, [fi al 'a la min] in na ka ha mi đum ma jid - Lạy Allah, cầu xin Ngài ban sự bình an cho Muhammad và dòng tộc của Người, giống như Ngài đã ban cho Ibrahim và dòng tộc của Người. Quả149- ((Ol lo hum ma sol li 'a la mu ham mad, wa 'a la a li mu ham mad, ka ma sol lây ta 'a la ib ro him, wa 'a la a li ib ro him, in na ka ha mi đum ma jid, wa ba rik 'a la mu ham mad, wa 'a la a li mu ham mad, ka ma ba rak ta 'a la ib ro him, wa 'a la a li ib ro him, [fi al 'a la min] in na ka ha mi đum ma jid - Lạy Allah, cầu xin Ngài ban sự bình an cho Muhammad và dòng tộc của Người, giống như Ngài đã ban cho Ibrahim và dòng tộc của Người. Quả thật, Ngài là Đấng đáng được Ca Tụng, Đấng Chí Tôn, và cầu xin Ngài ban phúc lành cho Muhammad và dòng tộc của Người, giống như Ngài đã ban cho Ibrahim và dòng tộc của Người. Quả thật, Ngài là Đấng đáng được Ca Tụng, Đấng Chí Tôn)) [113]. [113] Al-Bukhari, số 3370, và đoạn trong ngoặc vuông là từ Hadith của Abu Hurairah ở Muslim, số 405.
Alhamdulilah, mọi lời ca ngợi và tán dương kính dâng lên Allah, Đấng Chủ Tể của vũ trụ và vạn vật, lời ca ngợi xứng đáng với sự Uy Nghi và Quyền Lực Vĩ Đại của Ngài. Cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Nabi của chúng ta Muhammad, cho gia quyến của Người, cho các bạn đồng hành của Người, và cho những ai đi theo Người bằng những hành động tốt đẹp cho đến Ngày Phán Xét.
Chữa trị bằng Ruqyah
Từ Qur'an và Sunnah
Kẻ cần đến Allah Tối Cao
Dr. Sa'id bin Ali bin Wahf Al-Qahtani
Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung
Lời Mở Đầu: Tầm quan trọng của việc chữa trị bằng Qur'an và Sunnah
Alhamdulillah, mọi lời ca ngợi và tán dương kính dâng Allah, bầy tôi xin tạ ơn Ngài, thành tâm cầu xin Ngài giúp đỡ và tha thứ. Khẩn cầu Allah che chở tránh khỏi mọi điều xấu xuất phát từ bản thân của bầy tôi và trong mọi việc làm của bầy tôi. Quả thật, người nào được Allah hướng dẫn sẽ không bao giờ bị lạc lối, còn người nào bị Ngài làm cho lạc lối thì sẽ không bao giờ tìm thấy sự hướng dẫn. Bề tôi chứng nhận rằng không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Allah, Ngài là Thượng Đế duy nhất, không có đối tác, và bề tôi chứng nhận Muhammad là người bề tôi và là vị Thiên Sứ của Ngài. Cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Người, cho gia quyến của Người, cho các bạn đồng hành của Người và những ai đi theo họ bằng những hành động tốt đẹp cho đến Ngày Phán Xét, và xin Ngài ban thật nhiều sự bình an:
Không còn nghi ngờ gì nữa, việc điều trị bằng Thiên Kinh Qur'an và bằng những phương pháp Ruqyah đã được xác thực từ Nabi ﷺ là một phương pháp điều trị hữu hiệu và là một sự chữa lành hoàn toàn. Allah Toàn Năng phán: {Ngươi (Thiên Sứ) hãy nói với chúng: “(Qur’an) là một nguồn chỉ đạo và là một phương thuốc chữa lành bệnh cho những ai có đức tin.} (chương 41 - Fussilat, câu: 44). và Đấng Hiển Vinh phán: {TA (Allah) ban xuống trong Qur’an phương thuốc chữa lành (bệnh tật) và hồng phúc cho những người có đức tin, tuy nhiên, nó không thêm thắt được gì cho những kẻ sai quấy ngoại trừ sự thua thiệt.} (chương 17 - Al-Isra': 82). Và ý nghĩa ở đây mang tính bao quát; quả thật, toàn bộ Thiên Kinh Qur'an là phương thuốc chữa lành, như đã được đề cập trong câu Kinh trước đó[1], và Allah, Đấng Toàn Năng phán: {Hỡi con người! Thật vậy, lời răn (Qur’an) từ Thượng Đế đã đến với các ngươi. Nó là một phương thức chữa tâm bệnh của các ngươi, là một nguồn chỉ đạo và là lòng thương xót dành cho những người có đức tin.} (chương 10 - Yunus, câu: 57). (1) Xem: Al-Jawab Al-Kafi (Câu trả lời đầy đủ) của Ibnu Al-Qaiyim, trang 20.
Kinh Qur'an là phương thuốc chữa lành hoàn hảo cho tất cả các tâm bệnh, các bệnh tật của thể xác, và những căn bệnh của trần gian và Đời sau. Và không phải ai cũng được ban cho sự phù hợp và thành công để tìm kiếm sự chữa lành bằng Kinh Qur'an. Và nếu người bệnh biết cách dùng Qur'an để chữa trị một cách đúng đắn, và chữa bệnh của mình bằng Qur'an với sự chân thành và đức tin Iman, với sự chấp nhận hoàn toàn và niềm tin vững chắc, đồng thời đáp ứng đủ các điều kiện của nó, thì bệnh tật sẽ không bao giờ chống cự lại được. Và làm sao bệnh tật có thể chống lại Lời phán của Thượng Đế của trời đất, mà nếu Lời phán của Ngài được ban xuống những ngọn núi thì chúng sẽ vỡ tan, hoặc ban xuống mặt đất thì nó sẽ nứt toác? Vậy, không có căn bệnh nào thuộc về tâm bệnh và bệnh tật của thể xác mà trong Kinh Qur'an không có con đường chỉ dẫn đến cách điều trị, nguyên nhân, và cách phòng tránh nó, đối với người mà Allah đã ban cho sự thấu hiểu về Kinh Sách của Ngài. Và Allah, Đấng Quyền Năng và Vinh Quang, đã đề cập trong Kinh Qur'an về những tâm bệnh và bệnh tật của thể xác, và cách chữa trị cho tâm bệnh và bệnh tật của thể xác:
Về các loại tâm bệnh, chúng gồm hai loại: Bệnh hoài nghi và ngờ vực, và bệnh ham muốn và lầm lạc. Và Ngài, Đấng Tối Cao và Trong Sạch, đã đề cập chi tiết về các loại tâm bệnh này, cũng như nguyên nhân và cách chữa trị chúng[2], Ngài phán: {Lẽ nào việc TA đã ban Kinh Sách (Qur’an) xuống cho Ngươi để Ngươi xướng đọc cho họ không đủ cho họ hay sao? Quả thật, trong (Qur’an) là Hồng Ân và điều nhắc nhở cho đám người có đức tin.} (chương 29 - Al-‘Ankabut, câu 51). Cố học giả Ibnu Al-Qayyim đã nói: {Ai không được Qur'an chữa lành thì Allah không chữa lành cho y, và ai không xem Qur'an là đủ thì Allah không ban cho y sự đầy đủ.}[3]. [2] Trích từ Za'dul Ma'ad của Ibnu Al-Qayyim, 4/6, và 4/352. [3] Za'dul Ma'ad, quyển 4, trang 352.
Còn đối với các bệnh tật về thể chất, Kinh Qur'an đã hướng dẫn đến các nguyên tắc và nền tảng y học của nó. Các nguyên tắc y học về thể chất đều nằm trong Kinh Qur'an vĩ đại, chúng gồm ba điều: Bảo vệ sức khỏe, giúp phòng tránh những thứ gây hại, và loại bỏ các chất hư hại gây tổn hại; và từ đó suy luận áp dụng cho tất cả các trường hợp khác thuộc những loại này[4]. [4] Za'dul Ma'ad, 4/352, và 4/6.
Và nếu người bề tôi làm tốt việc chữa trị bằng Kinh Qur’an; y sẽ thấy được hiệu quả đáng ngạc nhiên về việc chữa lành nhanh chóng.
Học giả Imam Ibnu Al-Qayyim đã nói: «Có một thời gian ta ở Makkah và bị bệnh, không tìm thấy thầy thuốc cũng như thuốc men, nên ta đã tự chữa bệnh cho mình bằng chương Al-Fatihah và ta đã thấy hiệu quả đáng ngạc nhiên: Ta lấy một ít nước Zamzam, đọc vào đó chương Al-Fatihah nhiều lần rồi uống. Và nhờ đó ta đã hoàn toàn khỏi bệnh. Kể từ đó, ta đã dựa vào cách này để chữa nhiều cơn đau khác nhau và nhận thấy nó vô cùng hiệu quả. Ta đã chỉ cách này cho những ai than phiền về cơn đau, và nhiều người trong số họ đã nhanh chóng khỏi bệnh»[5]. [5] Xem: (Za'dul Ma'ad - Hành trang cho cõi sau) quyển 4, trang 178 và (Al-Jawab Al-Kafi - câu trả lời đầy đủ) trang 21.
Cũng như vậy, việc điều trị bằng những Ruqyah đã được xác thực từ Nabi ﷺ là một trong những phương thuốc hữu hiệu nhất. Và lời cầu xin, khi không bị những điều ngăn cản, là một trong những nguyên nhân hiệu quả nhất để xua đuổi điều xấu và đạt được điều mong muốn. Vì thế, lời cầu xin chính là một trong những phương thuốc hữu hiệu nhất, đặc biệt là khi kiên trì khẩn nài. Nó là kẻ thù của tai ương: Nó chống lại và chữa trị nó, ngăn không cho nó giáng xuống, hoặc làm giảm nhẹ nó khi đã giáng xuống[6]; bởi vì Nabi ﷺ đã nói: {Du'a mang lại lợi ích cho những gì đã giáng xuống và cả những gì chưa giáng xuống, do đó, hỡi bầy tôi của Allah, hãy luôn Du'a.}[7]; và Người ﷺ nói: {Không gì đẩy lùi được sự Tiền định ngoại trừ du'a, và không gì kéo dài được tuổi thọ ngoại trừ việc làm phúc đức.}(8) Tuy nhiên, ở đây có một vấn đề cần phải lưu tâm: Đó là những câu Kinh, những lời zdikr, những lời du'a, và những lời Isti'azdah được dùng để chữa bệnh và thực hiện Ruqyah, bản thân chúng đều hữu ích và có tác dụng chữa lành. Nhưng chúng đòi hỏi sự chấp nhận và sức mạnh của người thực hiện cùng tầm ảnh hưởng của người đó. Vậy nên, khi việc chữa bệnh không thành công, đó là do sự yếu kém trong tầm ảnh hưởng của người thực hiện, hoặc do sự không chấp nhận của người được chữa trị, hoặc do một trở ngại mạnh mẽ nơi người đó ngăn cản phương thuốc phát huy hiệu quả; bởi vì việc điều trị bằng Ruqyah dựa vào hai yếu tố: (6) Xem: Al-Jawab Al-Kafi, trang 22-25. [7] At-Tirmizdi, số 3548, và Al-Hakim, 1/670, và Ahmad, số 22044, được Al-Albani xác thực Hasan. Xem Sahih Al-Jami'a, 3/151, số 3403. [8] Al-Hakim, 1/670, và At-Tirmizdi, số 2139, được Al-Albani xác thực là Hasan trong: Silsilah Al-Ahadith As-Sahihah, 1/76, số 154.
Điều thứ nhất: Từ phía người bệnh, đó là sức mạnh nội tâm, sự chân thành hướng về Allah Tối Cao, niềm tin kiên định rằng Kinh Qur'an là sự chữa lành và là lòng thương xót cho những người có đức tin, và lời cầu xin che chở đúng đắn phải có sự thống nhất giữa trái tim và lời nói; bởi vì đây là một hình thức chiến đấu, và người chiến binh không thể giành chiến thắng trước kẻ thù của mình trừ phi có hai điều:
1. Vũ khí phải thực sự tốt và cánh tay phải mạnh mẽ. Khi một trong hai điều này thiếu sót, vũ khí sẽ không mang lại nhiều lợi ích. Vậy sẽ ra sao nếu cả hai điều này đều không có: Trái tim thì trống rỗng khỏi Tawhid, sự phó thác, lòng kính sợ, và sự hướng tâm về Ngài, và cũng không có vũ khí nào cả.
2. Đối với người chữa trị bằng Qur’an và Sunnah, người đó cũng phải hội đủ hai điều này[9]; và về điều này, Ibn At-Tin đã nói: ((Ruqah bằng các Surah cầu xin sự che chở và những tên gọi khác của Allah là phương thuốc về mặt tinh thần, khi nó được đọc bởi những người đức hạnh trong các tạo vật thì sự chữa lành sẽ đạt được với sự cho phép của Allah Tối Cao))[10]. (9) Xem: Za'dul Ma'ad, quyển 4, trang 68, và Al-Jawab Al-Kafi, trang 21. [10] Trích từ Fat-hu Al-Bari Ibnu Hajar, 10/196.
Các học giả đã đồng thuận rằng Ruqah được phép khi hội đủ ba điều kiện:
Điều kiện thứ nhất: Phải bằng lời phán của Allah Tối Cao, hoặc bằng các danh xưng và thuộc tính của Ngài, hoặc bằng lời của Thiên Sứ của Ngài ﷺ.
Điều kiện thứ hai: Phải bằng tiếng Ả Rập, hoặc bằng một ngôn ngữ khác mà ý nghĩa của nó được biết, được hiểu.
Điều kiện thứ ba: Tin rằng Ruqyah không tự nó có tác dụng, mà là bằng quyền năng của Allah Tối Cao; và Ruqyah chỉ là một trong những nguyên nhân. (11) Xem Fath Al-Bari, quyển 10, trang 195, và bộ Fatawa của học giả Ibnu Baz, quyển 2, trang 384.
Vì tầm quan trọng to lớn này, tôi đã trích lược phần Ruqyah từ quyển sách của tôi: «Sự Tưởng Nhớ Allah, Lời Cầu Xin và Việc Chữa Bệnh bằng Ruqyah từ Kinh Qur'an và Sunnah», và đã thêm vào đó những kiến thức hữu ích, nếu Allah Tối Cao muốn. Và tôi cầu xin Allah, Đấng Quyền Năng và Vinh Quang, bằng những Danh xưng Tốt đẹp nhất của Ngài và những Phẩm chất Tối cao của Ngài, xin Ngài làm cho nó là một nỗ lực chân thành chỉ vì Sắc diện Cao quí của Ngài, và xin Ngài ban lợi ích cho tôi từ nó, cũng như cho bất kỳ ai đọc nó, in nó, hoặc là nguyên nhân trong việc phổ biến nó, và cho toàn thể người Muslim; vì Ngài là Đấng Bảo vệ điều đó và Ngài toàn năng về điều đó. Cầu xin Allah ban phước lành và bình an cho Nabi Muhammad của chúng ta, cho gia đình Người, các bạn đồng hành của Người, và cho những ai đi theo họ một cách tốt đẹp cho đến Ngày Phán Xét.
Người nghèo nàn cần đến Allah Tối Cao
Dr. Sa'ed bin 'Ali bin Wahf Al-Qahtani
Ngày 18/6/1414 Hijri
1- Điều trị Sihr (bùa thuật)
Việc điều trị Sihr theo Islam gồm hai phần:
Phần thứ nhất: Cách bảo vệ khỏi Sihr trước khi nó xảy ra:
1- Thực hiện tất cả những điều bắt buộc, từ bỏ tất cả những điều bị cấm, và ăn năn sám hối về tất cả tội lỗi.
2- Thường xuyên xướng đọc Kinh Qur'an, tự ấn định một phần đọc cho mỗi ngày.
3- Tự tạo vòng bảo vệ bản thân bằng các lời du'a, các lời Isti'azdah, và những lời zdikr có trong giáo lý, chẳng hạn như: Nói “Bis mil la hil la zi laa ya dhur ru ma 'as mi hi shai un fil ar dhi, wa laa fis sa maa, wa hu was sa mi 'ul 'a lim” ba lần vào buổi sáng và buổi tối[12], và đọc Ayah Kursi sau mỗi lễ nguyện Salah, khi ngủ, và vào buổi sáng và buổi tối[13], và đọc: {Qul hu wol lo hu a had}, hai chương Al-Mu’awwidhatayn (chương Al-Falaq và chương Annas) ba lần vào buổi sáng và buổi tối, và khi đi ngủ, và nói: "La i la ha il lol loh wah đa hu la sha ri ka lah, la hul mul ku, wa la hul hâm đu, wa hu wa a la kul li shây in qodir" một trăm lần mỗi ngày[14], và duy trì các lời tụng niệm buổi sáng và buổi tối, các lời tụng niệm sau các lễ nguyện Salah, các lời tụng niệm khi đi ngủ và khi thức dậy, các lời tụng niệm khi ra vào nhà ở, các lời tụng niệm khi lên xe, các lời tụng niệm lúc ra vào Masjid, và lời du'a khi ra vào nhà vệ sinh, và lời du'a khi thấy người bị hoạn nạn, và những điều khác, Và tôi đã đề cập đến nhiều điều trong số đó trong tác phẩm ((Hisnul Muslim)) tùy theo từng hoàn cảnh, sự kiện, địa điểm và thời gian. Chắc chắn rằng, việc duy trì thực hành những điều đó là một trong những phương cách ngăn chặn sự xâm hại của sihr, con mắt tàn ác và Jinn, với sự cho phép của Allah Tối Cao. Chúng cũng là một trong những phương pháp chữa trị tuyệt vời sau khi đã bị ảnh hưởng bởi những tai ương này và các tai ương khác[15]. [12] At-Tirmizdi, số (3388), Abu Dawood, số (5088), và Ibnu Majah, số (3869), và Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Ibnu Majah, 2/332. [13] Al-Hakim xác thực Sahih và được Az-Zahabi đồng tình (1/562), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Targhib và At-Tarhib (1/273), số (658). [14] Al-Bukhari, 4/95, số (3293), và Muslim, 4/2071, số (2691). [15] Xem: Za'dul Ma'ad, 4/126, và Majmu’ Fatawa của học giả Ibn Baz, 3/277, và xem mười phương cách để tránh khỏi sự hãm hại của những kẻ ganh ghét và đố kỵ và những phù thủy, trong phần thứ ba của quyển sách này về cách chữa trị bùa ếm.
4- Ăn bảy quả chà là khô loại Ajwah vào buổi sáng nếu có thể; bởi Nabi ﷺ đã nói: {Ai ăn bảy quả chà là Ajwa vào buổi sáng sẽ không bị ngộ độc cũng như bị yểm bùa trong ngày đó.}[16]. Và loại hoàn hảo nhất là quả chà là của Madinah, loại được trồng giữa hai vùng Al-Harratain, theo lời thuật lại của Muslim; và Sheikh của chúng tôi, học giả lỗi lạc ‘Abdul ‘Aziz bin ‘Abdillah ibn Baz, cho rằng tất cả các loại chà là của Madinah đều có đặc tính này; bởi lời nói của Nabi ﷺ: «Ai ăn bảy quả chà là từ vùng đất nằm giữa hai dãy đá đen của nó[17] vào buổi sáng...» Hadith [18]: [16] Al-Bukhari, 10/247, số (5445), và Muslim, 3/1618, số (2047). [17] Lābatayhā: Là dạng kép của từ Lābah, tức là Al-Harrah, một vùng đất có những hòn đá đen và xốp như thể bị lửa đốt. Và ý muốn nói ở đây là hai vùng Harrah bao quanh Thành phố của Nabi (Madinah). Xem: Fayd Al-Qadir của Al-Munawi, 2/514. [18] Muslim 3/1618, số (2047).
Cũng như quan điểm của ông rằng điều đó được hy vọng cho người ăn bảy quả chà là nói chung không phải chỉ riêng chà là của Madinah.
Phần thứ hai: Điều trị sihr sau khi nó xảy ra, gồm nhiều loại:
Loại thứ nhất: Lấy nó ra và vô hiệu hóa nó khi đã biết được vị trí của nó bằng các phương pháp hợp pháp theo giáo luật. Và đây là một trong những phương pháp chữa trị hiệu quả nhất cho người bị yểm bùa[19]. [19] Xem: Za'dul Ma’ad, 4/124, và Al-Bukhari cùng với Al-Fath, 10/132, số (5765), và Muslim, 4/1917, số (2189), và Majmu' Fatawa Ibn Baz, 3/228.
Loại thứ hai: Ruqyah được phép trong giáo luật, và gồm những loại sau đây[20]: [20] Xem (Fath Al-Haqq Al-Mubin fi 'Ilaj Al-Sar' wa Al-Sihr wa Al-'Ayn - Phơi bày Chân lý trong việc điều trị bệnh động kinh, sihr và tà mắt trang 138.
Đầu tiên: Giã nát bảy lá táo bằng hai cục đá hoặc vật tương tự, sau đó đổ vào đó một lượng nước đủ để tắm và đọc các lời du'a sau đây rồi phun vào nước:
A ’u zdu bil la hi mi nash shay to nir ro jim (Bề tôi cầu xin Allah che chở tránh khỏi Shaytan bị trục xuất!), {Ol lo hu la i la i la il la hu wal hây dul qoi dum. La ta' khu zdu hu si na tun wa nâum, la hu ma fis sa ma wa ti wa ma fil ard. Man zdal la zdi dash fa u in đa hu il la bi izd nih. Da' la mu ma bây na ây đi him wa ma khol fa hum wa la du hi tu na bi shây in min il mi hi il la bi ma sha'. Wa si a kur si du hus sa ma wa ti wal ard w la da u đu hu hif zhu hu ma wa hu wal a li dul a zhim - Allah, không có Thượng Đế nào khác ngoài Ngài, Đấng Hằng Sống, Đấng Tự Tồn. Ngài không bị cơn buồn ngủ hay giấc ngủ chế ngự. Mọi vật trong các tầng trời và trái đất đều thuộc về Ngài. Ai có thể cầu xin Ngài mà không có sự cho phép của Ngài? Ngài biết những gì trước mặt họ và những gì sau lưng họ, và họ không thể bao quát được bất cứ điều gì trong kiến thức của Ngài ngoại trừ những gì Ngài muốn. Ngai của Ngài bao trùm các tầng trời và trái đất, và việc bảo vệ chúng không làm Ngài mệt mỏi. Ngài là Đấng Tối Cao.} (chương 2 - Al-Baqarah, câu 255).
{Wa âu hây na i la mu sa an al qi a so ka, fa i zda hi da tal qo fu ma da' fi qun - TA đã mặc khải cho Musa bằng lời phán: “Ngươi hãy ném cây gậy của mình xuống!” (Khi Musa ném gậy xuống), nó liền nuốt chửng những gì họ bịa đặt. (117) Fa wa qo al hoq qu wa ba to la ma ka nu da' ma lun - Sự thật đã được thiết lập, mọi thứ mà họ đã làm giả trở nên vô hiệu. (118) Fa ghu li bu hu ha li ka wan qo la bu so ghi rin -Vậy là chúng (Pha-ra-ông và quần thần của hắn) đã thua cuộc và bị xem thường. (119) Wa ul qi das sa ha ro tu sa ji đin - Các nhà phù thủy đã quỳ xuống phủ phục (khi chứng kiến sự thật). (120) Qa lu a man na bi rab bil a la min - Họ nói: “Chúng tôi đã có đức tin nơi Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.” (121) Rab bi mu sa wa ha run - “Thượng Đế của Musa và Harun.”} (chương 7 - Al-A'raf, câu117-122).
{Wa qo la fir âu nu' tu ni bi kul li sa hi rin a lim -Pha-ra-ông nói (với đám thuộc hạ): “Các ngươi hãy triệu tập cho ta tất cả các vị pháp sư uyên bác.” (79) Fa lâm ma ja as sa ha ro tu qo la la hum mu sa al qâu ma an tum mul qun - Vì vậy, khi các pháp sư đến, Musa nói với họ: “Các vị cứ ném xuống bất cứ thứ gì các vị muốn ném.” (80) Fa lâm ma al qâu qo la mu sa ma ji' tum bi his sih ru in nol loh ha sa dub ti lu hu, in nol lo ha la dus lih a ma lal muf si đin - Khi họ đã ném, Musa nói: “Những gì các vị mang đến chỉ là trò ma thuật. Chắc chắn Allah sẽ phá tan nó, bởi quả thật Ngài không để cho hành động của đám người dấy loạn bất tuân được thành công.” (81) Wa du hiq qul lo hul haq qo bi ka li ma ti hi wa lâu ka ri hal muj ri mun - Allah thiết lập chân lý bằng các lời phán của Ngài cho dù những kẻ tội phạm không thích (điều đó).} (chương 10 - Yunus, câu 79- 82).
{Qo lu da mu sa im ma an tul qi da wa im ma an na ku na âu wa la man al qo - (Họ) nói: “Hỡi Musa, hoặc là ông ném trước, hoặc là chúng tôi sẽ là những người đầu tiên ném.” (65) Qo la bal al qu fa i zda hi ba lu hum wa i si du hum du khoi da lu i lây hi min sih ri him an na ha tas 'a - (Musa) đáp: “Không, quí vị hãy ném xuống trước.” Thế là bằng pháp thuật, họ đã gây ảo giác làm cho Musa nhìn thấy những sợi dây cũng như những chiếc gậy của họ đang cử động. (66) Fa âu ja sa fi naf si hi khi fa tan mu sa - Musa đâm ra sợ hãi trong lòng trước (những gì họ thể hiện). (67) Qul na la ta khaf in na ka an tal a' la - TA (Allah) phán bảo (Musa): “Ngươi đừng sợ! Chắc chắn Ngươi cao tay hơn.” (68) Wa al qi ma fi da mi ni ka tal qaf ma so na u, in na ma so na u kây đu sa hir wa la duf li hus sa hi ru hây thu a ta - “Ngươi hãy ném chiếc gậy trong tay phải của ngươi xuống, nó sẽ nuốt hết những vật mà họ đã làm ra. Quả thật, vật mà họ đã làm chẳng qua chỉ là trò ảo thuật. Và nhà ảo thuật sẽ không thành công dù từ đâu đến đi chăng nữa.” (69) Fa ul qi das sa ha ro tu suj ja đanh qo lu a man na bi rab bi ha run wa mu sa - Thế rồi những tên pháp sư hạ mình xuống phủ phục. Họ nói: “Chúng tôi tin tưởng nơi Thượng Đế của Harun và Musa.”} (chương 20 – Taha, câu 65 – 70).
Bis mil la hir roh ma nir ro him - Nhân danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung {Qul da ây du hal ka fi run - (Hỡi Thiên Sứ Muhammad!) Ngươi hãy nói: “Này hỡi những kẻ vô đức tin!” (1) La 'a bu đu ma ta' bu đun - “Ta không thờ những thần linh (bục tượng) mà các người thờ phượng.” (2) Wa la an tum a bi đu na ma a' buđ - “Và các người cũng không thờ phượng Đấng mà Ta thờ phượng.” (3) Wa la a na a bi đum ma a biđ tum - “Và Ta chưa bao giờ là người thờ phượng những gì mà các người đã tôn thờ.” (4) Wa la an tum a bi đu na ma a' buđ - “Và các người cũng không thờ phượng Đấng mà Ta thờ phượng.” (5) La kum đi nu kum wa li da đin - “Các người có tôn giáo của các người và Ta có tôn giáo của Ta.”}
Bis mil la hir roh ma nir ro him {Qu hu wol lo hu a hađ - Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói: “Ngài là Allah, Đấng Duy Nhất. (1) Ol lo hus so mađ - Allah, Đấng mà vạn vật đều phải nương tựa. (2) Lâm da liđ wa lâm du lađ - Ngài không sinh ra ai và cũng không do ai sinh ra, (mà là Đấng Tạo Hóa). (3) Wa lâm da kul la hu ku fu wan a hađ - Và không có một ai (cái gì) có thể so sánh cùng Ngài.”}
Bis mil la hir roh ma nir ro him {Qul a u zdu bi rab bil fa laq - Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói: “Bề tôi cầu xin Thượng Đế của bình minh che chở. (1) Min shar ri ma kha laq - Tránh khỏi những điều xấu mà Ngài đã tạo. (2) Wa min shar ri gho si qin i zda wa qab - Tránh khỏi những điều xấu của bóng đêm khi nó bao phủ. (3) Wa min shar rin naf fa tha ti fil u qođ - Tránh khỏi những điều xấu từ những kẻ phù phép vào những chiếc gút thắt. (4) Wa min shar ri ha si đin i zda ha sađ - Và tránh khỏi sự hãm hại của những kẻ ganh ghét và đố kỵ.”}
Bis mil la hir roh ma nir ro him {Qul a u zdu bi rab bin nas - Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói: “Bề tôi cầu xin Thượng Đế của nhân loại che chở. (1) Ma li kin nas - Vị Vua của nhân loại. (2) I la hin nas - Thượng Đế của nhân loại. (3) Min shar ril was wa sil khon nas - Tránh khỏi những điều xấu của kẻ thì thào quấy nhiễu. (4) Al la zdi du was wi su fi su đu rin nas - Kẻ thường thì thào vào lòng của nhân loại. (5) Mi nal jin na ti wan nas - Từ loài Jinn và loài người."}
Sau khi đọc những lời Du’a đã nêu trên thì phun vào nước, rồi uống ba lần và tắm toàn thân với phần nước còn lại. Như vậy, bệnh sẽ khỏi theo ý muốn của Allah Tối Cao. Nếu cần thiết có thể áp dụng hai lần hoặc nhiều hơn cho đến khi bệnh khỏi. Cách này đã được thử nhiều lần và đã mang lại hiệu quả nhờ Allah, và nó cũng là cách điều trị tốt cho người bị ngăn cản quan hệ với vợ mình.[21] [21] Xem: bộ Fatawa của Ibnu Baz, quyển 3, trang 279, và Fathul Majid, trang 346, và As-Sarim Al-Battar fi At-Tasaddi lis-Saharati wal-Ashrar của Wahid Abdus salam, trang 109-117, trong đó có một bài Ruqyah dài, hữu ích và có lợi, Insha’Allah Ta’ala, và Musannaf Abdur razzaq, quyển 11, trang 13, và Fathu Al-Bari của Ibnu Hajar, quyển 10, trang 233.
Thứ hai: Đọc chương Al-Fatihah, câu Kinh Al-Kursi, hai câu Kinh cuối của chương Al-Baqarah, và ba chương Kinh cuối của Qur’an, ba lần hoặc nhiều hơn, đồng thời phun nhẹ nước bọt và dùng tay phải lau vuốt lên chỗ đau[22]. [22] Xem: Al-Bukhari với Al-Fath, 9/62, số (5016), và Muslim, 4/1723, số (2192), và Al-Bukhari với Al-Fath, 10/208.
Thứ ba: Những Lời Ta’awwuzdat (Cầu Xin Che Chở), Ruqyah, và Những Lời Du'a Toàn Diện:
1- {As a lul lo hal ‘a zh.i.m, rab bal ‘ar shil ‘a zh.i.m ay yash fi ya ka.} Ý nghĩa: {Tôi khẩn cầu Allah Vĩ Đại, Thượng Đế của chiếc ngai vương vĩ đại chữa lành bệnh cho anh (chị) (bảy lần)}[23]. (23) Abu Dawood, 3/187, số 3106, và At-Tirmizdi, 2/410, số 2083, và Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Al-Jame', 5/180, và 322 và trong Sahih Sunan Abu Dawood, 2/276.
2- Hãy đặt tay lên chỗ đau trên cơ thể và nói: {Bis mil lah} ba lần, và nói tiếp bảy lần: {A 'u zdu bil la hi wa qud ro ti hi min shar ri ma a ji đu wa u ha zdir}. Ý nghĩa: {Cầu xin Allah và quyền uy của Ngài che chở tránh khỏi những điều xấu xa mà bề tôi gặp phải và lo sợ đề phòng} [24] [24] Muslim, 4/ 1728, số 2202.
3- {Ol lo hum ma rab banh nas, azd hi bil ba’s, wash fi anh tash sha fi, la shi fa a il la shi fa uk, shi fa anh la du gho di ru sa co ma.} Ý nghĩa: {Lạy Allah, Thượng Đế của nhân loại, xin hãy xóa đi nỗi đau khổ, xin hãy chữa lành bệnh vì Ngài là Đấng Chữa Lành. Không có sự chữa lành nào ngoài sự chữa lành của Ngài, một sự chữa lành không để lại bệnh tật}[25]. [25] Al-Bukhari, 10/206, số (5750), và Muslim, 4/1721, số (2191).
4- {A 'u zdu bi ka li ma til la hit tam mah, min kul li shay to nin wa ham mah, wa min kul li 'ay nin lam mah} Ý nghĩa: {Với lời phán hoàn hảo của Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi mọi Shaytan, mọi loài có nọc độc, và khỏi mọi tà mắt.}[26]. [26] Al-Bukhari với Al-Fath, 6/408, số 3371.
5- {A 'u zdu bi ka li ma til lah at tam mat min shar ri ma kho laq} Ý nghĩa: {Với những lời phán hoàn hảo của Allah, bề tôi cầu xin che chở khỏi những điều xấu mà Ngài đã tạo} [27]. [27] Muslim 4/1728, số 2709.
6- {A 'u zdu bi ka li ma til la hit tam mat: Min gha đô bi hi, wa i qa bi hi, wa shar ri i ba đi hi, wa min ha ma za tish sha ya ti ni, wa an yah đu run}. Ý nghĩa: {Bề tôi xin nương tựa vào những lời hoàn hảo của Allah để tránh khỏi sự tức giận và sự trừng phạt của Ngài, khỏi sự xấu xa của đám bầy tôi của Ngài, khỏi sự xúi giục của Shaytan và khỏi sự hiện diện của chúng}[28]. [28] Abu Dawood, số 3893, và At-Tirmizdi, số 3528, và Al-Albani xác thực là Hasan trong Sahih At-Tirmizdi, 3/171.
7- {A 'u zdu bi ka li ma til la hit tam ma til la ti la du ja wi zu hun na bar run wa la fa jir, min shar ri ma kho laq, wa ba ro a, wa dza ro a, wa min shar ri ma dân zi lu mi nas sa ma i, wa min shar ri ma da' ru ju fi ha, wa min shar ri ma dza ro a fil ar đ, wa min shar ri ma dakh ru ju min ha, wa min shar ri fi ta nil lai li wan na har, wa min shar ri kul li to ri qin il la to ri qon dất ru qu bi khoir, da roh man.} (Ý nghĩa: Bề tôi cầu xin bởi các lời phán hoàn hảo của Allah, mà người ngoan đạo hay kẻ tội lỗi đều không thể vượt qua, che chở tránh khỏi sự xấu xa của những gì Ngài đã tạo ra, đã làm nên và đã gieo rắc; khỏi sự xấu xa của những gì từ trên trời đi xuống và của những gì đi lên đó; khỏi sự xấu xa của những gì Ngài đã gieo rắc trên mặt đất và của những gì từ dưới đất chui lên; khỏi sự xấu xa của những thử thách ban đêm và ban ngày; và khỏi sự xấu xa của mọi điều xảy đến ban đêm, ngoại trừ những điều mang lại tốt lành, lạy Đấng Rất Mực Khoan Dung).[29]. [29] Musnad Ahmad, 3/119, số 15461, với Isnad Sahih, và Ibn As-Sunni, số 637, và xem thêm: Majma' Az-Zawa'id, 10/127, và được Al-Albani xác thực Sahih trong bộ chuỗi Hadith Sahih, số (7/196).
8- «Ol lo hum ma rab bas sa ma wa tis sab i'', wav rab bal ar đi , wa rab bal ar shil a'zi mi, rab ba na wa rab ba kul li shây in, fa li qol hab bi wan na wa, wa mun zi lat taw ro ti wal in ji li wal qur'an, a u' zdu bi ka min shar ri kul li shây in an ta a' khi zdun bi na si ya tih, an tal aw wa lu fa lây sa qob la ka shây un, wa an tal a' khi ru fa lây sa ba' đa ka shây un, wa an taz zo hi ru fa lây sa fâw qo ka shây un, wa an tal ba ti nu fa lây sa đu na ka shây un...». Ý nghĩa: «Lạy Allah, Thượng Đế của bảy tầng trời, Thượng Đế của trái đất, Thượng Đế của Ngai Vương Vĩ Đại, Chúa của bầy tôi và Thượng Đế của mọi thứ, Đấng chẻ hạt và hạt chà là, Đấng ban xuống Kinh Cựu Ước, Tân Ước và Qur'an, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi điều xấu của mọi thứ mà Ngài chế ngự và kiểm soát, Ngài là Đấng Đầu Tiên nên không có gì trước Ngài, và Ngài là Đấng Cuối Cùng nên không có gì sau Ngài, và Ngài là Đấng Hiển Hiện nên không có gì ở trên Ngài, và Ngài là Đấng ẩn giấu không có gì vượt quá Ngài ...»[30]. [30] Muslim, 4/2084, số 2713.
9- "{Bis mil la hi ar qi ka, minh kul li shay in du' zdi ka, qua min shar ri kul li naf sin âu ‘ây ni ha sid, Ol lo hu dash fi ka, bis mil la hi ar qi ka} Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, Ta thực hiện Ruqyah cho ngươi, để xua tan mọi điều làm hại ngươi, và khỏi mọi tác hại của mọi tâm hồn hay ánh mắt đố kỵ. Cầu xin Allah chữa lành cho ngươi. Nhân danh Allah, Ta thực hiện Ruqyah cho ngươi}.[31]" [31] Muslim thuật lại từ Abu Sa’ed, 4/1718, số 2186.
10- «Bis mil la hi dub ri ka, wa min kul li đa in dash fi ka, wa min shar ri ha si đin i zda ha sa đa, wa min shar ri kul li zdi ây nin». Ý nghĩa: «Nhân danh Allah, Ngài chữa khỏi cho ngươi, và khỏi mọi căn bệnh, Ngài chữa lành cho ngươi, và khỏi tác hại của kẻ đố kỵ khi nó đố kỵ, và khỏi tác hại của mọi con mắt»[32]. [32] Muslim, từ Hadith của 'A-ishah, 4/1718, số 2185.
11- {Bis mil la hi ar qi ka min kul li shây in yu' zdi ka, min ha sa đi ha si đin, wa min kul li zdi ayn ol lo hu dash fi ka}. Ý nghĩa: {Nhân danh Allah, Ta thực hiện Ruqyah cho ngươi, khỏi mọi thứ làm hại ngươi, khỏi sự ganh ghét của kẻ đố kỵ, và khỏi mọi con mắt hãm hại. Cầu xin Allah chữa lành cho ngươi.}[33] [33] Sunan Ibn Majah, số 3527, do 'Ubadah bin Os-Somit thuật lại, được Al-Albani xếp loại Sahih trong Sahih Ibn Majah, 2/268.
Những lời cầu xin bảo hộ, những lời Du'a và những Ruqyah này được dùng để điều trị sihr, tác hại của tà mắt, sự quấy phá của Jinn, và tất cả các loại bệnh; bởi chúng là những lời Ruqyah toàn diện và hiệu quả với sự cho phép của Allah Tối Cao.
Loại thứ ba: Thải độc bằng phương pháp Hijamah tại vị trí hoặc bộ phận cơ thể có biểu hiện bị ảnh hưởng bởi sihr, nếu có thể thực hiện được. Còn nếu không thể thực hiện được thì những phương pháp điều trị đã đề cập trước đó là đủ, tạ ơn Allah Tối Cao [34]. [34] Xem: Zadul Ma'ad, 4/125, và có những phương pháp điều trị sihr sau khi nó xảy ra không có gì sai trái nếu chúng đã được thử và mang lại hiệu quả. Xem: Musannaf Ibn Abi Shaybah, 7/386-387, Fath Al-Bari, 10/233-234, Musannaf 'Abdur-Razzaq, 11/13, As-Sarim Al-Battar, tr. 194-200, và As-Sihr Haqiqatuhu wa Hukmuhu của Tiến sĩ Musfir Ad-Dhumayni, tr. 64-66.
Loại thứ tư: Các loại thuốc tự nhiên. Có những loại thuốc tự nhiên hữu ích được Qur’an và Sunnah thuần khiết chỉ dẫn; nếu một người dùng chúng với niềm tin vững chắc, lòng chân thành và sự thành tâm, cùng với niềm tin rằng lợi ích đến từ Allah thì Allah sẽ ban lợi ích qua chúng, nếu Allah Đấng Tối Cao muốn. Tương tự, có những loại thuốc được bào chế từ thảo dược và các chất tương tự, và chúng dựa trên thử nghiệm thực tế, do đó, việc sử dụng chúng là được phép theo giáo luật, miễn là chúng không Haram[35]. (35) Xem (Fat-hu Al-Haq Al-Mubin fi 'Ilaj As-Sar' wa As-Sihr wa Al-'Ain), trang 139.
Và trong số những phương pháp chữa trị tự nhiên hữu ích dưới phép của Allah Tối Cao là: Mật ong[36], hạt thì là đen[37], nước Zamzam[38], và nước mưa; bởi lời phán của Đấng Tối Cao: {Và TA đã ban từ trên trời xuống nguồn nước (mưa) mà TA dùng làm mọc ra} (chương 50 - Qaf, câu 9). và dầu ô-liu; bởi Nabi ﷺ đã bảo: {Hãy ăn dầu ô liu và hãy thoa nó; vì nó từ một cây được ban phước.}[39], Thực tế qua kinh nghiệm, sử dụng và nghiên cứu đã chứng minh rằng đó là loại dầu tốt nhất[40], và trong số các phương thuốc tự nhiên là: Tắm rửa toàn thân, vệ sinh sạch sẽ và dùng chất thơm[41]. [36] Xem: (Fat-hu Al-Haq Al-Mubin), trang 140, và việc chữa trị bằng mật ong sẽ được trình bày trong quyển sách này. [37] Xem (Fat-hu Al-Haqq Al-Mubin), trang 141, và cách chữa trị bằng hạt đen sẽ được đề cập trong quyển sách này. [38] Xem: (Fat-h Al-Haqq Al-Mubin), trang 144, và phần chữa trị bằng nước Zamzam sẽ có trong quyển sách này. [39] Ahmad ghi trong Musnad (3/497), số (16055), At-Tirmizdi, số (1851), và Ibnu Maajah số (3319), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, số (2/166). (40) Xem: (Fat-h Al-Haqq Al-Mubin fi 'ilaj As-Sar'i was-Sihr wal-'Ain), trang 142. (41) Xem: Cùng nguồn trước đó, trang 145.
2- Chữa trị mắt
Các thể loại chữa trị khi bị trúng tà mắt:
Phần thứ nhất: Trước khi mắc phải, gồm các hình thức:
1- Tự bảo vệ bản thân và bảo vệ những người mình lo sợ cho họ bằng những lời tụng niệm, những lời du'a và những lời cầu xin sự bảo hộ hợp pháp, như được trình bày trong phần đầu tiên của phương pháp điều trị sihr[42]. [42] Xem: Những gì đã được trình bày trước về cách chữa trị sihr trong quyển sách này.
2- Người lo sợ hoặc e ngại ánh nhìn của mình có thể gây nguy hại – khi nhìn thấy điều gì từ ngoại hình của mình, hoặc từ tài sản, hoặc từ con cái, hoặc từ người anh em đồng đạo, hoặc bất cứ điều gì khác làm cho mình ngạc nhiên – thì hãy cầu xin phúc lành bằng cách nói: ((Masha-Allah, la qu-wata illa billah, Ol lo hum ma ba rik 'a lay hi)); có nghĩa là: ((Đó là điều Allah muốn, không có sức mạnh nào khác ngoài sức mạnh của Allah, lạy Allah, xin Ngài ban phúc lành cho nó)); theo lời dạy của Nabi ﷺ: {Nếu một người trong các ngươi nhìn thấy điều gì làm mình ngưỡng mộ từ người anh em của mình, thì hãy cầu xin phúc lành cho người đó.}[43]. [43] Malik ghi trong Al-Muwatta' số (2/938), Ibnu Maajah ghi số 3509 (2/1160), và Ahmad ghi số 15700 (4/447), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibnu Maajah, 2/265. Và Zadul Ma'aad, 4/170, và “As-Saarim Al-Battaar fi At-Tasaddi lis-Saharati wal-Ashraar” của Sheikh Wahid ‘Abdus Salam, trang 229-252.
3- Che kín những nét đẹp của người có nguy cơ bị trúng tà mắt[44]. [44] Xem: Sharh As-Sunnah của Al-Baghawi, 13/116, và Zadul Ma'ad, 4/173.
Phần thứ hai: Sau khi bị trúng tà mắt, gồm các hình thức sau:
1- Khi xác định được người gây ra tà mắt, người đó được yêu cầu thực hiện Wudu, rồi người bị trúng tà mắt sẽ dùng nước đó để tắm[45]. [45] Xem: Sunan Abu Dawood, 4/9, số 5056, và Al-Albani xác thực là Sahih trong Silsilah Al-Ahadith As-Sahihah, 6/61, và Zadul Ma'ad, 4/163, và xem: Al-Wiqayah wa Al-'Ilaj min Al-Kitab wa As-Sunnah của Muhammad bin Shaye', trang 144-147.
2- Thường xuyên đọc: chương {Qul hu wol lo hu a hađ}, hai chương Al-Mu’awwidzatain, chương Al-Fatihah, Ayah Kursi, những câu cuối của chương Al-Baqarah và các lời Du’a hợp giáo luật về Ruqyah, kết hợp với việc thổi nhẹ và xoa lên chỗ đau bằng tay phải, như được đề cập trong phương pháp thứ hai về việc điều trị sihr ở mục ((c)), từ số 1-11[46]. [46] Xem: Những gì đã được trình bày trong hình thức thứ hai về cách chữa trị sihr của quyển sách này.
3- Đọc rồi phun vào nước, sau đó người bệnh uống một ít và dùng phần còn lại để tắm[47], hoặc đọc rồi phun vào dầu và dùng dầu ấy thoa lên người[48]. Nếu việc đọc này được thực hiện với nước Zamzam thì sẽ hoàn hảo hơn nếu có sẵn[49], hoặc dùng nước mưa[50]. [47] Sunan Abu Dawood, 4/10, số 3885, Nabi ﷺ đã làm vậy cho Thabit ibn Qais. Và Al-Albani đã xếp nó vào loại yếu trong Da'if Abi Dawood, số 836. (48) Musnad Ahmad, 3/497, số 16055, được Al-Albani xác thực Sahih trong bộ chuỗi Hadith Sahih, 1/108, số 379. [49] Xem: Phần đã trình bày về hình thức thứ tư của phương pháp điều trị sihr, trong quyển sách này. [50] Xem: Những gì đã được trình bày trong hình thức thứ tư về cách chữa trị sihr, trong quyển sách này.
4- Được phép viết cho người bệnh một số câu Kinh Qur’an, sau đó hòa vào nước để người bệnh uống[51], trong đó có chương Al-Fatihah, câu Kinh Al-Kursi, và hai câu Kinh cuối cùng của chương Al-Baqarah, và chương Kinh {Qul hu wol lo hu a hađ}, và hai chương Kinh Al-Falaq và Annas, và những lời Du’a Ruqyah như trong hình thức thứ hai của phương pháp điều trị sihr, mục ((b)) và ((j)), từ số 1-11[52]. [51] Xem: (Zadul Ma-aad - Hành trang cho cõi sau) của Ibnu Al-Qoiyim, quyển 4, trang 170, và bộ Fatawa của Ibnu Taimiyah, quyển 19, trang 64. [52] Xem: Hình thức thứ hai của cách chữa trị sihr, trong quyển sách này.
Phần thứ ba: Thực hiện những phương cách đẩy lùi tà mắt của người ganh tị, như sau:
1- Cầu xin Allah che chở khỏi sự xấu xa của nó.
2- Kính sợ Allah Tối Cao và tuân giữ mệnh lệnh và điều ngăn cấm của Ngài: {Hãy bảo vệ Allah, Ngài sẽ bảo vệ ngươi}[53]. (53) At-Tirmizdi ghi số 2516, được Al-Albani xác nhận Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 2/309.
3- Kiên nhẫn với người ganh tị và tha thứ cho họ; không gây chiến với họ, không than phiền về họ, và cũng không có ý nghĩ làm hại họ.
4- Phó thác cho Allah, và ai phó thác cho Allah thì Ngài đủ giúp y.
5- Không lo sợ kẻ ganh tị, cũng không để tâm trí bận lòng về , và đây là một trong những phương thuốc hữu hiệu nhất.
6- Hướng về Allah, thành tâm với Ngài, và tìm kiếm sự hài lòng của Ngài - Đấng Toàn Năng.
7- Phải sám hối tội lỗi; bởi vì tội lỗi sẽ khiến con người bị kẻ thù của mình áp chế: {Bất cứ tai họa nào xảy đến với các ngươi (hỡi nhân loại) là do bàn tay của các ngươi đã gây ra, tuy nhiên, Ngài xí xóa (cho các ngươi) rất nhiều} (chương 42 - Al-Shura, câu 30).
8- Sadaqah (làm từ thiện) và làm điều tốt đẹp theo khả năng; quả thật việc đó có tác dụng kỳ diệu trong việc xua đuổi tai ương, tà mắt, và sự xấu xa của kẻ ganh tị.
9- Dập tắt ngọn lửa của kẻ ganh tị, kẻ áp bức và kẻ hãm hại bằng cách đối xử tử tế với họ. Bởi vì, họ càng gia tăng sự hãm hại, sự xấu xa, sự áp bức và sự ganh tị đối với bạn, thì bạn càng gia tăng sự tử tế, lời khuyên và lòng trắc ẩn đối với họ. Và điều này không ai có thể làm được ngoại trừ người có được phần phước vĩ đại từ Allah.
10- Việc thanh lọc và thành tâm trong Tawhid dành riêng cho Đấng Toàn Năng, Sáng Suốt, Đấng mà không có gì có thể gây hại và cũng không có gì mang lại lợi ích trừ phi được Ngài cho phép. Và Ngài là Đấng bao hàm tất cả những điều đó, và mọi nguyên nhân đều xoay quanh Ngài. Bởi vậy, Tawhid là pháo đài vĩ đại nhất của Allah, mà ai vào đó thì sẽ thuộc về những người được an toàn.
Thế nên, đây là mười phương cách để đẩy lùi sự xấu xa của kẻ đố kỵ, kẻ có tà mắt và kẻ dùng sihr[54]. [54] Xem: (Badai' Al-Fawa-id - Những lợi ích kỳ diệu) của học giả Ibnu Qaiyim, quyển 2, trang 238 - 245.
3- Chữa trị việc Jinn nhập vào người.
Việc điều trị người bị Jinn nhập và ám được chia thành hai loại:
Phần thứ nhất: Trước khi bị:
Một trong những phương cách bảo vệ là duy trì mọi bổn phận bắt buộc, tránh xa mọi điều cấm, sám hối mọi tội lỗi, và tự bảo vệ bằng những lời tụng niệm, cầu nguyện và cầu xin che chở hợp thức theo giáo luật.
Phần thứ hai: Phương pháp điều trị sau khi bị Jinn nhập:
Và được thực hiện bởi sự đọc của người Muslim mà tấm lòng và lời nói của y đồng nhất, và việc y Ruqyah cho người bị bệnh, và phương pháp chữa trị vĩ đại nhất là Ruqyah bằng chương Al-Fatihah[55], câu Kinh Al-Kursi, và hai câu Kinh cuối của chương Al-Baqarah, và chương {Qul hu wol lo hu a hađ} và chương {Qul a u zdu bi rab bil fa laq} và chương {Qul a u zdu bi rab bin nas} kết hợp với việc thổi nhẹ lên người bệnh, và lặp lại điều đó ba lần hoặc nhiều hơn, cũng như các Ayat Qur'an khác; bởi vì toàn bộ Qur'an là sự chữa lành cho những gì trong lồng ngực, là sự điều trị, sự hướng dẫn và là lòng thương xót cho những người có đức tin[56], và những lời Du'a của Ruqyah như đã nêu trong loại thứ hai của việc điều trị sihr ở đoạn ((b)) và ((ج))[57]. Và trong phương pháp điều trị này, cần phải có hai điều: [55] Xem: Sunan Abu Dawood, 4/13-14, số 3896, và Ahmad, 5/210, số 21835, và Al-Bani xác thực là Sahih trong Silsilah Al-Ahadith As-Sahihah, số 2028. [56] Xem: Al-Fath Al-Rabbani Tartib Musnad Al-Imam Ahmad, quyển 17, trang 183. [57] Xem: Loại thứ hai về điều trị sihr, trong quyển sách này.
Thứ nhất, về phía người bị ảnh hưởng: Đó là sức mạnh nội tâm của y, sự hướng lòng chân thành về Allah, và sự cầu xin che chở đúng đắn mà trái tim và miệng lưỡi đồng nhất.
Điều thứ hai, về phía người chữa trị, cũng phải như vậy, bởi vì vũ khí là do người sử dụng[58]. [58] Xem: một bài Ruqyah dài và hữu ích trong tác phẩm As-Sarim Al-Battaar, tr.109-117, của Sheikh Wahid Abdus-Salam, và xem: Zadul-Ma'ad, 4/66-69, và Idah al-Haq fi Dukhul al-Jinni bil-Insi wa al-Radd 'ala Man Ankara Dhalik của học giả uyên bác Abdul Aziz bin Abdullah Ibn Baz, tr.14, và Fatawa Ibn Taymiyyah, 19/9-65, và 24/276, và Al-Wiqayah wa al-'Ilaj min al-Kitab wa al-Sunnah của Muhammad bin Shayi', tr.66-69, và xem: mục Kayfiyyah Tard al-Jinn min al-Bayt trong tác phẩm Al-Wiqayah wa al-'Ilaj của Muhammad bin Shayi', tr.59, và 'Alam al-Jinn wa al-Shayatin của Al-Ashqar, tr.130.
Và nếu azdan vào tai của người bị ảnh hưởng thì đó là điều tốt; bởi vì Shaytan sẽ bỏ chạy khỏi điều đó[59]. [59] Xem: Fath Al-Haq Al-Mubin fi 'Ilaj Al-Sar' wa Al-Sihr wa Al-'Ain, tr.112, Al-Bukhari, số 574.
4- Chữa trị các bệnh tâm lý:
Phương pháp chữa trị vĩ đại nhất cho những căn bệnh tâm lý[60] và sự chật hẹp trong lồng ngực, được tóm lược như sau: [60] Xem thêm: phần ‘Những nguyên nhân mở rộng lồng ngực’ trong Zadul-Ma’ad, quyển 2, trang 23-28, và sách (Al-Wasa-il Al-Mufidah lil-Hayat As-Sa’idah - Những phương tiện hữu ích cho một cuộc sống hạnh phúc) của học giả Abdur-Rahman bin Nasir As-Sa’di.
1- Sự hướng dẫn và Tawhid, trong khi sự lầm lạc và Shirk là một trong những nguyên nhân lớn nhất của sự siết chặt lồng ngực.
2- Ánh sáng của đức tin chân thật mà Allah soi rọi vào con tim của người bề tôi, cùng với việc làm thiện lành.
3- Kiến thức hữu ích, bởi cứ mỗi khi kiến thức của người bề tôi được mở rộng thì lồng ngực của y càng trở nên nhẹ nhõm và rộng mở.
4- Ăn năn sám hối và quay về nương tựa Allah Đấng Toàn Năng, yêu mến Ngài bằng cả tấm lòng, hướng trọn về Ngài, và tìm thấy niềm an lạc trong việc thờ phượng Ngài.
5- Việc liên tục tụng niệm Allah trong mọi hoàn cảnh và ở mọi nơi, quả thật, điều đó có một tác động kỳ diệu trong việc nới rộng lồng ngực, mang lại niềm hân hoan cho con tim, và xóa tan đi nỗi lo âu và phiền muộn.
6- Tử tế với tạo vật bằng mọi hình thức tử tế, và mang lại lợi ích cho họ bằng những gì có thể. Người hào phóng và tử tế là người có tấm lòng rộng mở nhất, tâm hồn tốt đẹp nhất, và trái tim an vui nhất.
7- Dũng cảm và can đảm, bởi vì người dũng cảm và can đảm thì có tấm lòng rộng mở, trái tim bao dung.
8- Loại bỏ những điều xấu xa của trái tim, tức là những phẩm chất đáng bị khiển trách - những điều khiến trái tim trở nên chật hẹp và chịu dày vò, như sự ganh tị, căm ghét, hận thù, sự thù địch, hiềm và sự áp bức. Và quả thật đã được xác thực rằng Nabi ﷺ đã được hỏi ai là người tốt nhất trong nhân loại thì Người đáp: ((Mỗi người có trái tim trong sạch, chiếc lưỡi trung thực.)) Họ nói: Người có chiếc lưỡi trung thực thì chúng tôi biết, vậy người có trái tim trong sạch là gì? Người đáp: ((Đó là người ngoan đạo, trong sạch, không có tội lỗi, không có sự bất công, không có lòng hận thù, và không có sự ganh tị.))[62]. [61] Daghal của một sự vật: Một khuyết điểm (tì vết) bên trong làm hư hỏng nó. [62] Do Ibnu Maajah ghi số (4216), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibnu Maajah, 2/411.
9- Từ bỏ việc nhìn ngó, nói năng, lắng nghe, giao du, ăn uống, và ngủ nghỉ một cách thừa thãi; bởi vì việc từ bỏ những điều đó là một trong những nguyên nhân giúp cho lồng ngực thư thản, con tim an nhiên, và những lo âu phiền muộn tan biến.
10- Chuyên tâm vào một công việc, hoặc một kiếnthức hữu ích; bởi những điều ấy khiến trái tim xao lãng khỏi điều làm nó lo lắng.
11- Quan tâm đến công việc của ngày hôm nay, và cắt đứt sự bận tâm về tương lai cũng như nỗi buồn về quá khứ. Người bề tôi phấn đấu vào những gì có lợi cho mình về tôn giáo và thế tục, cầu xin Thượng Đế ban cho sự thành công trong mục đích của mình, và cầu xin Ngài giúp đỡ cho điều đó; bởi vì điều đó sẽ an ủi khỏi sự lo lắng và nỗi buồn.
12- Nhìn xuống những người kém hơn mình, và đừng nhìn lên những người bên trên mình về sức khỏe và những gì kèm theo nó; và về bổng lộc và những gì phụ thuộc vào nó.
13- Lãng quên những nghịch cảnh đã qua mà không thể thay đổi, tuyệt đối không nghĩ về chúng.
14- Khi người bề tôi gặp phải một tai ương nào đó, thì người đó hãy nỗ lực làm giảm thiểu nó, bằng cách ước lượng khả năng xấu nhất mà sự việc có thể dẫn đến, và ứng phó nó theo khả năng của mình.
15- Sức mạnh của trái tim là không bị xao động hay kích động bởi những ảo tưởng và tưởng tượng do các ý nghĩ xấu mang đến, không tức giận, không lo sợ việc mất đi những điều yêu thích và việc xảy đến những điều tai ương; trái lại người đó phó thác mọi việc cho Allah, đồng thời thực hiện những gì có lợi và cầu xin Allah sự tha thứ và an lành.
16- Dựa dẫm của trái tim vào Allah, phó thác cho Ngài, và luôn nghĩ tốt về Ngài, Đấng Tối Cao; bởi vì người phó thác cho Allah thì những ảo tưởng không thể ảnh hưởng đến y.
17- Người khôn ngoan hiểu rằng cuộc sống đúng nghĩa của mình là một cuộc sống hạnh phúc và an yên, và rằng nó rất ngắn ngủi. Vì vậy người đó không làm cho ngắn lại bằng những lo lắng và buông mình theo những phiền muộn, bởi vì điều đó đi ngược lại với một cuộc sống lành mạnh.
18- Khi gặp phải một điều tai ương, hãy so sánh giữa những hồng ân còn lại đang có, dù là tôn giáo hay trần thế, với điều tai ương đã xảy đến. Khi so sánh như vậy, sẽ thấy rõ các hồng ân mình đang hưởng thì rất nhiều. Tương tự, cũng nên so sánh giữa những tổn hại có thể xảy đến với nhiều khả năng được an toàn, đừng để một khả năng yếu ớt lấn át nhiều khả năng mạnh mẽ khác. Bằng cách đó, nỗi lo âu và sợ hãi sẽ tan biến.
19- Hiểu rằng việc người khác làm tổn thương mình, đặc biệt là những lời nói xấu xa, không hề gây hại cho mình; mà trái lại nó chỉ gây hại cho chính họ. Vì vậy, người không bận tâm đến chúng để chúng không thể gây hại cho mình.
20- Hướng suy nghĩ của mình vào những điều mang lại lợi ích cho bản thân trong tôn giáo và thế tục.
21- Một bề tôi không tìm kiếm sự đền đáp từ ai khác ngoài Allah đối với những điều tốt đẹp mà mình đã làm, và người đó biết rằng đây là một sự giao dịch giữa mình với Allah. Vì vậy, người đó không bận tâm đến việc người mà mình đã làm ơn có biết ơn hay không: “Chúng tôi chia sẻ thức ăn cho quí vị là chỉ vì sắc Diện của Allah chứ chúng tôi không mong sự đền đáp và tri ân từ quí vị.” (chương 76 - Al-Insan, câu: 9).
22- Tập trung vào những điều có lợi và nỗ lực thực hiện chúng, không để tâm đến những điều có hại, để không làm bận rộn tâm trí và suy nghĩ của mình với chúng.
23- Hoàn thành dứt điểm công việc ở hiện tại để có thể chuyên tâm giải quyết những công việc về sau với một trí lực và hành động mạnh mẽ.
24- Lựa chọn từ những việc làm hữu ích và kiến thức hữu ích theo thứ tự quan trọng nhất, đặc biệt là những gì bản thân thực sự mong muốn, và tìm kiếm sự giúp đỡ cho điều đó từ Allah, sau đó là sự tham khảo ý kiến. Khi lợi ích đã được xác định và đã quyết tâm, thì hãy phó thác cho Allah Toàn Năng.
25- Nói về các ân huệ của Allah, cả những ân huệ hiển hiện và tiềm ẩn; bởi vì việc nhận biết và nói về chúng sẽ được Allah dùng để xua tan đi nỗi lo lắng và phiền muộn, và nó thúc giục người bề tôi phải biết tạ ơn.
26- Đối xử với vợ, người thân, đối tác, và tất cả những ai mà bạn có mối quan hệ, khi thấy ở họ có một khuyết điểm, bằng việc nhận biết những đức tính tốt của họ và so sánh điều đó. Bởi nhờ việc chú ý đến điều đó, mối quan hệ sẽ được bền lâu, và lòng sẽ được thanh thản; và vì thế, Nabi ﷺ đã nói: {Một người đàn ông có đức tin không ghét bỏ một người phụ nữ có đức tin. Nếu anh ta không thích một trong những đặc điểm của cô ta, anh ta sẽ chấp nhận một đặc điểm khác của cô ta.}[63] [63] Muslim, 2/1091, số 1469.
27- Cầu nguyện xin cho mọi việc được tốt đẹp, và một số những lời cầu nguyện quan trọng cho điều đó là: ((Ol lo hum ma os leh li đi ni al la zdi hu wa 'is ma tu âm ri, wa os leh li đun da ya al la ti fi ha ma 'a shi, wa os leh li a khi ro ti al la ti i lây ha ma 'a đi, waj 'a lil ha ya ta zi đa đa tal li fi kul li khoi ri, waj 'a lil mâu ta ro ha tal li min kul li shar - Ý nghĩa: (Lạy Allah, xin Ngài cải thiện tôn giáo của bề tôi, vì đó là sự bảo vệ cho vụ việc của bề tôi. Xin Ngài cải thiện thế giới trần tục của bề tôi, nơi mà bề tôi sinh sống. Và xin Ngài cải thiện Ngày Sau cho bề tôi, nơi mà bề tôi sẽ trở về. Xin Ngài làm cho cuộc sống của bề tôi được gia tăng trong mọi điều tốt lành, và làm cho cái chết thành sự thanh thản và bình an cho bề tôi khỏi mọi điều xấu.)))[64] , Và tương tự: {Ol lo hum ma roh ma ta ka ar ju, fa la ta kil ni i la naf si tar fa ta 'ain, wa os leh li sha' ni ku la hu la i la ha il la an ta – Lạy Allah, bề tôi hy vọng vào lòng thương xót của Ngài, xin đừng bỏ rơi bề tôi dù trong chớp mắt, và xin Ngài sắp xếp mọi việc cho bề tôi. Không có Thượng Đế nào ngoài Ngài.}[65]. [64] Muslim, 4/ 2087, số 2720. [65] Abu Dawood, 4/324, số 5090, và Ahmad, 5/42, số 0430, Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih Al-Jame', số 3388, và xác thực là Hasan trong Sahih Sunan Abu Dawood, 3/251.
28- Jihad vì chính nghĩa của Allah; bởi lời nói của Nabi ﷺ: ((Hãy Jihad vì chính nghĩa của Allah; quả thật, Jihad vì chính nghĩa của Allah là một trong những cánh cổng của Thiên Đàng, qua đó Allah giải thoát khỏi nỗi lo âu và phiền muộn»[66]. (66) Ahmad ghi số (5/314, 316, 319, 326, 330, 21624, 22680, 22732), Al-Hakim xác thực Sahih và được Az-zahabi đồng tình số (2/75), và được Al-Albani xác thực Sahih trong bộ chuỗi Hadith Sahih số (2/274).
Và những phương cách và phương tiện này là một phương pháp chữa trị hữu ích cho các căn bệnh về tinh thần, và là một trong những phương pháp chữa trị tuyệt vời nhất cho nỗi lo âu về tinh thần đối với người biết suy ngẫm và thực hành chúng một cách chân thành và thành tâm. Và một số học giả đã dùng chúng để chữa trị cho nhiều trường hợp và các căn bệnh tâm lý, và Allah đã dùng chúng để mang lại lợi ích to lớn[67]. (67) Xem Lời giới thiệu của (Al-Wasa-il Al-Mufidah - Những phương pháp hữu ích), ấn bản lần thứ năm, trang 6.
5- Việc chữa trị vết loét và vết thương.
Khi có người than phiền, hoặc bị lở loét hay bị thương, thì Thiên Sứ của Allah ﷺ làm bằng ngón tay của Người như thế này, và Sufyan đã đặt ngón trỏ của mình xuống đất, rồi nhấc nó lên và nói: ((Bismillah, Turbatu ardhina, biri-qoti ba'dhina, yusfa bihi saqi-muna, bi izdni Rabbina - Nhân danh Allah. Đây là đất của chúng ta, với nước bọt của một số người trong chúng ta, sẽ chữa lành bệnh tật của chúng ta, với sự cho phép của Thượng Đế chúng ta)) [68]. [68] Al-Bukhari với Al-Fath, 10/206, số 5745, và Muslim, 4/1724, số 2194.
Ý nghĩa của Hadith là: Người ﷺ lấy nước bọt của chính mình thấm vào ngón trỏ, sau đó chạm nó xuống đất để đất dính vào một ít, rồi dùng nó vuốt lên chỗ bị thương hoặc chỗ đau, và nói lời này trong khi vuốt[69]. [69] Xem: (Sharh An-Nawawi 'ala Sahih Muslim), quyển 14, trang 184, và (Fat-hu Al-Bari của Ibnu Hajar), quyển 10, trang 208, và xem phần giải thích đầy đủ cho Hadith trong (Zadul Ma'ad), quyển 4, trang 186-187.
6- Hóa giải tai họa.
{Không một tai họa nào xảy ra trên trái đất hoặc nhằm vào bản thân các ngươi mà lại không được ghi chép trong Quyển Sổ Định Mệnh trước khi TA (Allah) thể hiện nó. Quả thật, điều đó rất đơn giản đối với Allah. Để cho các ngươi (hỡi con người) không tuyệt vọng về những gì đã mất và không vui mừng quá đỗi (đến mức tự hào và kiêu ngạo) về những gì (Allah) đã ban cho các ngươi. Quả thật, Allah không yêu thương những kẻ khoác lác khoe khoang.} (chương 57 - Al-Hadid, câu: 22-23).
2- {Không một tai họa nào xảy ra mà không do phép của Allah. Ai có đức tin nơi Allah, Ngài sẽ hướng dẫn trái tim của y. Quả thật, Allah là Đấng biết tất cả mọi thứ.} (chương 64 - Al-Taghabun, câu: 11).
3- ((Bất cứ ai khi gặp tai ương, nói: In na lil la hi qua in na i lây hi ro ji 'un, ol lo hum ma a jur ni phi mu si ba ti qua akh lif li khoi ron min ha - Quả thật, chúng ta là của Allah và chúng ta sẽ trở về gặp Ngài. Lạy Allah, xin Ngài hãy giải thoát bề tôi khỏi tai ương này và hãy thay đổi cho bề tôi điều khác tốt đẹp hơn nó. Chỉ có Allah Tối Cao mới ban thưởng cho y vì những tai ương của y và thay thế nó bằng điều tốt đẹp hơn))[70]. [70] Muslim, 2/633, số 918.
4- ((Khi con của một người bề tôi chết, Allah Tối Cao phán với các Thiên Thần của Ngài: Các ngươi đã rút hồn con của bề tôi của TA? Họ thưa: Dạ. Ngài phán: Các ngươi đã lấy trái ngọt trong tim y? Họ thưa: Dạ. Ngài phán: Vậy, người bề tôi của TA đã nói gì? Họ thưa: Y nói: Alhamdulillah, In na lil la hi qua in na i lây hi ro ji 'un[71]. Ngài phán: Các ngươi hãy xây cho bề tôi đó của TA một Tòa nhà trên Thiên Đàng, và đặt tên là Tòa nhà Al-Hamd (tạ ơn)[72].)) [71] Tức y đã nói: “Tạ ơn Allah, quả thật, bầy tôi thuộc về Allah và bầy tôi phải quay về với Ngài!” [72] At-Tirmizdi, số (1021), và Al-Albani xếp loại Hasan trong: Sahih At-Tirmizdi, 1/298.
5- ((Allah, Đấng Tối Cao phán: Bất cứ người bề tôi có đức tin nào của TA khi người yêu thương của y trên thế gian bị lấy đi (chết) rồi y kiên nhẫn chịu đựng vì mong được ân phước thì phần ân thưởng nơi TA không gì hơn ngoài Thiên Đàng.)) [73]. [73] Al-Bukhari với Al-Fath, 11/242, số 6424.
6- Nabi ﷺ nói với một người đàn ông có con trai qua đời: {Lẽ nào ngươi không muốn rằng bất cứ cổng nào của Thiên Đàng ngươi đến, ngươi đều sẽ thấy y đang chờ ngươi?}[74]. [74] Ahmad, số 15595, và An-Nasa-i, quyển 4, trang 23, trong phần Lễ Tang, chương Lệnh phải mong chờ Ân thưởng và Kiên nhẫn khi tai họa xảy đến, số 1870, và chuỗi truyền tin của nó là xác thực theo tiêu chuẩn của As-Sahih, và được Ibnu Hibban xác thực, quyển 8, trang 209, và được Al-Albani xác thực trong Sahih Al-Targhib wa Al-Tarhib, số 2007, và xem: Fath Al-Bari, quyển 11, trang 243.
7- ((Allah Toàn Năng phán: Khi TA thử thách người bề tôi của TA bằng việc lấy đi hai thứ yêu quý của y rồi y kiên nhẫn chịu đựng vì mong được ân phước, thì TA sẽ đền bù cho y bằng Thiên Đàng.)) (Ý muốn nói là đôi mắt của y).[75] [75] Al-Bukhari, Fath Al-Bari, 10/116, số 5653, và phần trong ngoặc vuông từ Sunan At-Tirmizdi, số 2400, xem: Sahih At-Tirmizdi, 2/286.
8- ((Không một người Muslim nào gặp phải tai họa, dù là bệnh tật hay bất cứ điều gì khác, mà không được Allah xóa bỏ tội lỗi giống như một cái cây rụng lá.))[76]. [76] Al-Bukhari cùng với Al-Fath, 10/120, số 5648, và Muslim, 4/1991, số 2571.
9- ((Không một người Muslim nào bị một cái gai đâm hay điều gì tổn hại hơn thế, mà không được nâng lên một cấp bậc và được xóa bỏ một tội lỗi.))[77]. [77] Muslim, 4/ 1991, số 2572.
10- ((Không một người có đức tin nào bị bệnh tật[78], mệt mỏi[79], ốm đau hay buồn phiền, ngay cả sự lo âu mà y bận lòng[80], ngoại trừ y được xóa bớt tội lỗi của mình[81].)) [78] Al-Wasab: Cơn đau dai dẳng. Và từ đó là Lời phán của Ngài: (chúng sẽ bị trừng phạt đời đời kiếp kiếp), tức là (sự trừng phạt) dai dẳng và không thay đổi. Xem Sharh An-Nawawi, 16/130. [79] Annasab: Sự mệt nhọc. [80] Được đọc là « yahummuhu » với Fathah ở chữ Ya và Dhammah ở chữ Ha, và cũng được đọc là « yuhimmuhu » với Dhammah ở chữ Ya và Fathah ở chữ Ha, nghĩa là: Làm cho Người phiền lòng. Cả hai cách đọc đều đúng. Xem Sharh An-Nawawi 'ala Sahih Muslim, 16/130. [81] Muslim, 4/ 1993, số 2573.
11- "Quả thật, phần thưởng lớn đi cùng với tai ương lớn, và quả thật, khi Allah yêu thương một nhóm người thì Ngài sẽ thử thách họ. Vì vậy, ai hài lòng thì sẽ được sự hài lòng (của Ngài), còn ai oán giận thì sẽ chịu sự giận dữ (của Ngài)"[82] [83]. [82] At-Tirmizdi số 2396, và Ibnu Majah số 4031, được Al-Albani xác nhận Hasan trong Sahih At-Tirmizdi, 2/286. [83] Được nói rằng: As-Sukht và As-Sakhat là trái ngược với Ar-Rida (sự hài lòng). Đã sakhita, tức là đã giận dữ, và người đó là saakhit. Và askhatahu, tức là làm cho y nổi giận. Và được nói: Tasakhkhatta 'athaa-ahu, tức là y coi thường sự ban cho đó và không hài lòng với nó. Và động từ sakhita sakhatan theo mẫu ta’iba, và As-Sukhtu với âm dammah là danh từ của nó, ...Và sakhiṭtuhu, sakhiṭtu ‘alaihi và askhaṭtuhu fasakhiṭa giống như aghḍabtuhu faghaḍiba về cấu trúc và ý nghĩa. Xem: As-Sihaah, mục từ sakhat, và Al-Misbah Al-Munir, mục từ sakhat.
12- « ...Cuộc thử thách sẽ tiếp tục đối với người bề tôi[84] cho đến khi người đó bước đi trên mặt đất và không còn tội lỗi nào trên người nữa»[85]. [84] Nghĩa là: Người Muslim. [85] At-Tirmizdi, số 2698, và Ibnu Majah, số 4023, và được Sheikh Al-Albani phân loại là Hasan trong Sahih At-Tirmizdi, 2/286.
7- Điều trị những lo lắng và đau buồn
1- Bất kỳ người bề tôi nào gặp nỗi lo và sự đau buồn, nói: «Ol lo hum ma in ni 'ab đu ka ib nu 'ab đi ka ib nu a ma ti ka, na si da ti bi da đi ka, ma đin fi da huk mu ka, 'ađ lun fi da co đo u ka, as a lu ka bi kul li is min hu wa la ka, sâm mây ta bi hi naf sa ka, âu an zal ta hu fi ki ta bi ka, âu 'al lâm ta hu a ha đan min khol ci ka, âu is ta' thar ta bi hi fi il mil ghoi bi 'in đi ka, an taj a lal cur an ro bi a col bi, wa nu ro sođ ri, wa ja la a huz ni, wa zda ha ba hâm mi, il la adz ha bal lo hu huz na hu wa hâm ma hu, wa ab đa la hu ma ka na hu fa ro han - Lạy Allah, bề tôi là tôi tớ của Ngài, là đứa con trai của tôi tớ Ngài, là đứa con của người nữ tôi tớ Ngài, chùm tóc trên trán của bề tôi nằm trong tay Ngài, quá khứ của bề tôi là phán quyết của Ngài, và sắc lệnh của Ngài cho bề tôi là công bằng, bề tôi cầu xin Ngài qua mọi danh xưng thuộc về Ngài, danh xưng mà Ngài đã tự đặt cho mình, hoặc được tiết lộ trong Kinh Sách của Ngài, hoặc đã dạy cho bất kỳ tạo vật nào của Ngài, hoặc được giữ riêng cho Ngài trong kiến thức về điều vô hình ở nơi Ngài: Rằng xin Ngài biến Kinh Qur'an thành mùa xuân cho trái tim bề tôi, ánh sáng của lồng ngực bề tôi, phương thuốc xóa tan nỗi buồn của bề tôi, và phương thuốc làm cho nỗi lo lắng của bề tôi biến mất, thì Allah sẽ xóa tan nỗi buồn và lo lắng của y, và thay vào đó bằng niềm vui»[86]. [86] Ahmad ghi số (1/391), số (3712), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Targhib và At-Tarhib, số (182).
2- «Ol lo hum ma in ni a 'u zdu bi ka mi nal hâm wal ha zan, wal 'aj zi wal ka sal, wal bukh li wal jub ni, wa do la 'iđ đây ni wa gho la ba tir ri jal - Lạy Allah, bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi sự đau khổ và buồn phiền, sự bất lực và lười biếng, sự keo kiệt và hèn nhát, khỏi gánh nặng nợ nần và sự áp đảo của người khác.»[87] [87] Al-Bukhari, 7/158, số 2893, Thiên Sứ ﷺ thường đọc nhiều lời cầu xin này, xem: Al-Bukhari với Al-Fath, 11/173.
8- Liều thuốc điều trị sầu muộn.
1- «La i la ha il lol loh, al 'a zhi mul ha lim, la i la ha il lol loh, rab bul ar shil 'a zhim, la i la ha il lol loh, rab bus sa ma wat, wa rab bul ardh, wa rab bul 'ar shil ka rim - Không có Thượng Đế nào ngoài Allah, Đấng Vĩ Đại, Đấng Hằng Chịu Đựng. Không có Thượng Đế nào ngoài Allah, Đấng Chủ Nhân của chiếc Ngai Vương Vĩ Đại. Không có Thượng Đế nào ngoài Allah, Đấng Chủ Tể của các tầng trời, Đấng Chủ Tể của trái đất, và Đấng Chủ Tể của chiếc Ngai Vương Vinh Dự.»[88] [88] Al-Bukhari, 7/154, số (6346), và Muslim, 4/2092, số (2730).
2- {Ol lo hum ma roh ma ta ka ar ju, fa la ta kil ni i la naf si tar fa ta 'ain, wa os leh li sha' ni ku la hu la i la ha il la an ta - Lạy Allah, bề tôi hy vọng vào lòng thương xót của Ngài, xin đừng bỏ rơi bề tôi dù trong chớp mắt, và xin Ngài hãy sắp xếp mọi việc cho bề tôi. Không có Thượng Đế nào ngoài Ngài.}[89]. [89] Abu Dawood, 4/324, số 5092, và Ahmad, 5/42, số 20430, và Al-Albani xếp loại Hasan trong Irwa Al-Ghalil, 3/357, và Al-Arnaut trong bản hiệu đính Al-Musnad của ông, 34/75.
3- "La i la ha il la an ta, sub ha na ka, in ni kun tu mi nozh zho li min - Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài, vinh quang thay Ngài, quả thật bề tôi là một kẻ sai quấy"[90]. [90] At-Tirmizdi, 5/529, số 3505, và Al-Hakim ghi và xác thực là Sahih, được Az-Zahabi đồng tình, 1/505, và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 3/168.
4- "Al lo hu Al lo hu Rob bi, la ush ri ku bi hi shây a - Allah, Allah là Thượng Đế của tôi, tôi không Shirk (gán ghép đối tác) với Ngài bất cứ điều gì.”[91]. [91] Abu Dawood, 2/87, số 1525, và được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibn Majah, 2/335, và Sahih At-Tirmizdi, 4/196.
9- Người bệnh tự chữa trị cho bản thân.
{Hãy đặt tay lên chỗ đau và nói 3 lần Bismillah và bảy lần A 'u zdu bil la hi wa qud ro ti hi min shar ri ma a ji đu wa u ha zdir - Bề tôi cầu xin Allah và quyền uy của Ngài che chở tránh khỏi những điều xấu xa mà bề tôi gặp phải và lo sợ đề phòng}[92] [92] Muslim, 4/1728, số (2202).
10- Chữa trị cho người bệnh khi thăm viếng.
«Bất cứ người bề tôi Muslim nào đến thăm một người bệnh chưa hết tuổi thọ, và nói bảy lần: 'As a lul loh al a zhim, rab bal ar shil 'a zhim, an yash fi da ka - Cầu xin Allah, Đấng Toàn Năng, Chủ Nhân của Ngai Vương Vĩ Đại, hãy chữa lành bệnh cho anh (người bênh)»[93]. (93) At-Tirmizdi ghi số (2083) và Abu Dawood ghi số (3893), được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih At-Tirmizdi số (2/210) và trong Sahih Al-Jami'a số (5/180).
11- Cách chữa trị sự lo lắng và hoảng sợ trong giấc ngủ
«A 'u zdu bi ka li ma til la hit tam ma ti: min gha đo bi hi, wa i qo bi hi, wa shar ri i ba đi hi, wa min ha ma za tish sha ya tin, wa anh yah đu run - Tôi cầu xin sự che chở bằng những lời hoàn hảo của Allah khỏi sự tức giận và sự trừng phạt của Ngài, khỏi sự xấu xa của các bề tôi của Ngài, và khỏi sự xúi giục của Shaytan và khỏi sự hiện diện của chúng»[94]. [94] Abu Dawood, 4/12, số 3893, và được Al-Albani xếp loại Hasan trong Sahih At-Tirmizdi, 3/171.
12- Cách chữa trị bệnh sốt
Nabi ﷺ nói: “Sốt là cơn nóng của Hỏa Ngục, hãy làm nguội nó bằng nước.”[95]. [95] Al-Bukhari với Al-Fath, 10/174, số (3264), và Muslim, 4/1733, số (2210).
13- Chữa trị vết đốt và vết cắn.
1. Đọc Al-Fatihah và gom nước bọt, rồi phun lên vết cắn[96]. [96] Al-Bukhari cùng với Fath, 10/208, Tập y học, chương Ruqyah của Nabi ﷺ.
2- Xoa lên đó bằng nước và muối, đồng thời đọc: chương {Qul da ây du hal ka fi run}, và chương {Qul a u zdu bi rab bil fa laq} và chương {Qul a u zdu bi rab bin nas}[97]. [97] At-Tabarani ghi trong Al-Mu'jam As-Saghir, 2/830, được Al-Haythami đánh giá là chuỗi truyền tải tốt trong Majma' Az-Zawa'id, 5/111, và được Al-Albani xác thực là Sahih trong chuỗi Hadith Sahih, số 548.
14- Cách chữa trị cơn giận
Chữa trị cơn giận có hai cách:
Cách thứ nhất: Phòng ngừa.
Và nó có được nhờ việc tránh những nguyên nhân dẫn đến sự tức giận, và trong số những nguyên nhân này là: sự kiêu ngạo, sự tự mãn, sự khoe khoang, lòng tham đáng bị chê trách, sự đùa giỡn không đúng lúc, sự bông đùa, và những điều tương tự.
Phương pháp thứ hai: Cách chữa trị sau khi nổi giận.
gồm bốn loại:
Cầu xin sự che chở nơi Allah tránh khỏi Shaytan đáng bị nguyền rủa (bằng cách nói: A u zdu bil la hi mi nosh shây to nir ro jim).
Wudu'.
Thay đổi trạng thái đang tức giận bằng cách ngồi, hoặc nằm, hoặc đi ra ngoài, hoặc im lặng, hoặc các cách khác.
Luôn nhớ đến những gì đã được truyền lại về phần thưởng cho việc kiềm chế cơn giận, và về hậu quả của sự tức giận là sự thất bại và tủi nhục[98]. [98] Xem phần luận giải chi tiết kèm bằng chứng xác thực trong: Tác phẩm (Aafat Al-Lisan – Sự nguy hại của chiếc lưỡi), trang 110-112, và (Al-Hikmah fi Ad-Da’wah ila Allah – Sự khôn ngoan trong việc kêu gọi đến với Allah), trang 64-66 của tác giả.
15- Chữa trị bằng Hạt Đen
Nabi ﷺ nói: {Trong hạt màu đen có phương thuốc chữa trị cho mọi căn bệnh, ngoại trừ cái chết.} Ibn Shihab nói: As-Sam: Cái chết, và hạt đen: Shuniz»[99], Hạt đen mang lại rất nhiều lợi ích, và lời nói của Người ﷺ: ((Phương thuốc chữa trị cho mọi căn bệnh)) cũng giống như lời phán của Đấng Tối Cao: {Nó tàn phá mọi thứ theo Lệnh của Thượng Đế của nó}. (chương 46 - Al-Ahqaf, câu: 25). Tức là, mọi thứ đều có thể bị hủy diệt và những thứ tương tự.(100) [99] Al-Bukhari với Fath, 10/143, số (5688), và Muslim, 1735, số (2215). [100] Xem: (Zadul Ma'aad - Hành trang cho cõi sau), quyển 4, trang 297, và (At-Tibb min Al-Kitab wa As-Sunnah - Y học từ Qur'an và Sunnah) của Al-'Allamah Muwaffaq Ad-Din 'Abdul-Latif Al-Baghdadi, trang 88.
16- Phương pháp chữa bệnh bằng mật ong
1- Allah, Đấng Toàn Năng và Hùng Vĩ, đã phán khi nhắc về loài ong: {Từ trong bụng của (ong mật) có một thứ đồ uống mang nhiều màu sắc, trong đó có sự chữa lành bệnh cho loài người. Quả thật, trong sự việc đó là dấu hiệu cho một đám người biết suy ngẫm}. (chương 16 - Al-Nahl, câu: 69).
2- Và Nabi ﷺ nói: «Việc chữa bệnh là bằng ba cách: Rạch da giác máu, uống mật ong, hoặc dùng lửa đốt, và Ta cấm Ummah của Ta cách dùng lửa đốt»[101]. [101] Al-Bukhari với Al-Fath, 10/ 137, số 5681, và xem về lợi ích của mật ong trong: Za'dul Ma'ad, 4/50 -62, và Al-Thibb min Al-Kitab wa Al-Sunnah của học giả Muwaffaq Ad-Din Abdul-Latif Al-Baghdadi, 129-136.
17- Chữa bệnh bằng nước Zamzam.
1- Nabi ﷺ đã nói về nước Zamzam: {Quả thật Nó phúc lành, là nguồn thực phẩm [và liều thuốc chữa bệnh]}[102]. [102] Muslim, 4/1922, số 2473, và phần nằm trong ngoặc vuông tại Al-Bazzar, 2/86, Al-Bayhaqi trong Al-Sunan Al-Kubra, 5/147, và Al-Tabarani trong Al-M'uajam Al-Awsad, 3/247, đường truyền của nó chính xác, xem: Majma' Al-Zawa'id, 3/286.
2- Và Jabir thuật lại từ Nabi ﷺ: {Nước Zamzam mang lại những gì mà người uống mong muốn}[103]. [103] Ibnu Maajah ghi số 3062, và những người khác, được Al-Albani xác thực Sahih trong Sahih Ibnu Maajah, 2/183, và Irwa' Al-Ghalil, 4/320.
3- Và đã được xác thực từ Người ﷺ rằng Người đã từng mang nước Zamzam trong các bình da[104] và các bầu da, và đã từng đổ lên người bệnh và cho họ uống»[105]. Cố học giả Ibnu Al-Qaiyim đã nói: "Bản thân tôi và những người khác đã trải nghiệm những điều kỳ diệu từ việc tìm kiếm sự chữa lành bằng nước Zamzam. Tôi đã dùng nó để chữa trị nhiều căn bệnh và đã được chữa khỏi[106] với sự cho phép của Allah[107]." [104] Al-Idawah: Bình đựng nước thanh tẩy, số nhiều là Al-Adawa. Mukhtar As-Sihah, 1/11. [105] At-Tirmizdi ghi 1/180, số 963, Al-Baihaqi ghi 5/202, và được Al-Albani xác thực là Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 1/284, chuỗi Hadith Sahih, 2/572, số 883, và Za'dul-Ma'ad, 4/392. [106] Và những người ngoài Hijaz nói: {Fabari'tu}. Xem: An-Nihayah fi Gharib Al-Hadith, 1/111. [107] Za'dul-Ma’ad, 4/393, và 178.
18- Chữa trị các loại tâm bệnh
Các con tim có ba loại:
1- Trái tim trong sạch: Đó là trái tim mà vào Ngày Phán Xét sẽ không ai được cứu rỗi ngoại trừ người mang nó đến với Allah. Allah, Đấng Tối Cao, đã phán: {Đó là Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được gì. Ngoại trừ những ai đến với Allah bằng một tấm lòng trong sạch.} (chương 26 - Al-Shu-‘ara’, câu: 88, 89).
Trái tim trong sạch là trái tim đã thoát khỏi mọi ham muốn trái với mệnh lệnh và điều cấm của Allah, và khỏi mọi sự nghi ngờ mâu thuẫn với lời phán của Ngài. Do đó, nó thoát khỏi sự tôn thờ bất cứ ai khác ngoài Ngài và thoát khỏi việc chấp nhận sự phán quyết của bất kỳ ai khác ngoài Thiên Sứ của Ngài ﷺ.
Tóm lại, trái tim trong sạch và lành mạnh là trái tim đã trong sạch khỏi việc có bất kỳ hình thức tổ hợp nào với ai khác ngoài Allah; mà ngược lại, sự thờ phượng của nó đã hoàn toàn thành tâm vì Allah: về ý muốn, tình thương yêu, sự phó thác, sự sám hối, sự khiêm nhường, sự kính sợ, và niềm hy vọng; và hành động của nó cũng hoàn toàn thành tâm vì Allah. Nếu y yêu thương là yêu thương vì Allah, nếu y căm ghét là căm ghét vì Allah, nếu y ban cho là ban cho vì Allah, và nếu y từ chối cũng là từ chối vì Allah. Vậy nên, mọi bận tâm của y đều vì Allah, mọi tình yêu của y đều vì Allah, mục đích của y là vì Ngài, thân thể của y là vì Ngài, hành động của y là vì Ngài, giấc ngủ của y là vì Ngài, và sự tỉnh thức của y là vì Ngài. Lời nói của y, và việc nói về Ngài đối với y còn ngọt ngào hơn mọi lời nói khác, và những suy nghĩ của y xoay quanh những điều làm Ngài hài lòng và những điều Ngài yêu thích.[108] Chúng ta cầu xin Allah Tối Cao ban cho chúng ta trái tim này. [108] Xem (Ighathat Al-Lahfan min Masa-id Al-Shaytan - Cứu giúp người lo lắng khỏi cạm bẫy [108] Xem (Ighathat Al-Lahfan min Masa-id Al-Shaytan - Cứu giúp người lo lắng khỏi cạm bẫy của Shaytan) của Ibnu Al-Qaiyim, quyển 1, trang 7 và 73.
2- Trái tim đã chết: Nó đối nghịch với loại đầu tiên, đó là trái tim không nhận biết Thượng Đế của nó, và không thờ phượng Ngài theo mệnh lệnh của Ngài cũng như những gì Ngài yêu thích và hài lòng; trái lại, nó chỉ chạy theo dục vọng và khoái lạc của bản thân, ngay cả khi trong đó có sự phẫn nộ và tức giận của Thượng Đế. Do đó, nó thờ phượng thứ khác ngoài Allah: băng tình yêu, sự sợ hãi, hy vọng, sự hài lòng, sự tôn sùng và sự hạ mình. Nó ghét vì dục vọng, yêu vì dục vọng, ban cho vì dục vọng, và giữ lại cũng vì dục vọng. Vì vậy, dục vọng là người dẫn dắt nó, ham muốn là người chỉ huy nó, sự ngu dốt là người lèo lái nó, và sự xao lãng là phương tiện của nó[109]. Chúng tôi cầu xin Allah che chở khỏi loại trái tim này. (109) Xem: Ighathat Al-Lahfan min Masayid Al-Shaytan, quyển 1, trang 9.
3- Con tim bệnh tật: Đó là con tim vừa có sự sống vừa có bệnh tật. Nó có hai nguồn chi phối, lúc thì nguồn này, lúc thì nguồn kia, và nó sẽ ngả theo bên nào chiếm ưu thế. Trong nó có tình yêu dành cho Allah Tối Cao, đức tin Iman, lòng thành và sự phó thác nơi Ngài, đó là nguồn sống của nó. Và trong nó cũng có lòng ham muốn dục vọng, tham vọng đạt được chúng, sự ganh tỵ, kiêu ngạo, tự mãn, ham muốn địa vị và quyền lực để gây ra sự thối nát trên mặt đất, đạo đức giả, khoe khoang, keo kiệt và bủn xỉn; đó là nguồn gốc của sự hủy hoại và tàn lụi của nó[110]. Cầu xin Allah che chở chúng ta khỏi loại con tim này. [110] Xem: Ighathat Al-Lahfan, quyển 1, trang 9.
Và sự chữa lành cho trái tim khỏi mọi chứng bệnh của nó đã được chứa đựng trong Kinh Qur'an.
Allah Tối Cao phán: {Hỡi con người! Thật vậy, lời răn (Qur’an) từ Thượng Đế đã đến với các ngươi. Nó là một phương thức chữa tâm bệnh của các ngươi, là một nguồn chỉ đạo và là lòng thương xót dành cho những người có đức tin.} (chương 10 - Yunus, câu: 57). và Đấng Hiển Vinh phán: {TA (Allah) ban xuống trong Qur’an phương thuốc chữa lành (bệnh tật) và hồng phúc cho những người có đức tin, tuy nhiên, nó không thêm thắt được gì cho những kẻ sai quấy ngoại trừ sự thua thiệt.} (chương 17 - Al-Isra', câu: 82).
Các loại tâm bệnh gồm hai dạng:
Một loại bệnh mà người mắc phải không cảm thấy đau đớn tức thời, đó là căn bệnh của sự thiếu hiểu biết, sự mơ hồ và hoài nghi. Và đây là loại bệnh nghiêm trọng hơn trong hai loại, nhưng do sự hư hoại của con tim nên y không cảm nhận được nó.
Và một loại là bệnh tật gây đau đớn tức thời: Như sự lo âu, phiền muộn, buồn bã và tức giận. Căn bệnh này có thể biến mất bằng các phương thuốc tự nhiên, bằng cách loại bỏ các nguyên nhân của nó và những cách khác[111]. [111] Xem: Ighathat Al-Lahfan, quyển 1, trang 44.
Việc chữa trị con tim bao gồm bốn điều sau đây:
Thứ nhất: Thiên Kinh Qur'an là phương thuốc chữa lành cho trái tim khỏi sự nghi ngờ, và Nó loại bỏ khỏi đó tội thờ đa thần, sự ô uế của vô đức tin, những chứng bệnh nghi ngờ và ham muốn, dục vọng. Nó là sự hướng dẫn cho người biết được Chân Lý và hành động theo đó, và là hồng ân cho những người có đức tin qua những phần thưởng mà họ nhận được ở đời này và Đời Sau. Allah phán: {Lẽ nào một người đã chết (do chưa được hướng dẫn về tâm linh) rồi được TA cứu sống lại và ban cho ánh sáng nhờ đó y có thể bước đi thanh thản giữa thiên hạ lại ngang bằng với một kẻ mắc kẹt trong bóng tối không thể nào thoát ra được?! Như thế đó, những việc làm tội lỗi của những kẻ vô đức tin luôn thu hút họ.} (chương 6 - Al-An'am, câu: 122).
Điều thứ hai: Con tim cần đến ba điều:
1- Điều duy trì sức mạnh của y là nhờ có đức tin Iman, việc làm ngoan đạo và thiện tốt, và việc thực hành các bổn phận thờ phượng và vâng lời.
2- Phòng tránh những điều nguy hại, tức là tránh xa tất cả những điều tội lỗi và các loại vi phạm.
3. Thanh tẩy khỏi mọi thứ độc hại bằng sự ăn năn sám hối và xin tha thứ.
Điều thứ ba: Chữa trị căn bệnh của con tim khỏi sự lấn át của bản ngã đối với nó:
Để chữa trị nó, có hai phương pháp: Tự kiểm điểm và chống lại nó. Và việc tự kiểm điểm gồm hai dạng:
Dạng thứ nhất: Trước khi hành động, và gồm bốn cấp bậc:
1- Có khả năng làm việc này không?
2- Liệu thực hiện việc làm này có tốt hơn là từ bỏ nó không?
3- Hành động này có định tâm hướng về Allah không?
4- Việc làm này có được sự trợ giúp không, và có những người trợ lực để giúp đỡ và ủng hộ không, nếu đó là một công việc cần đến những người trợ lực? Nếu câu trả lời là có thì mới tiến hành, còn không thì tuyệt đối không được tiến hành.
Dạng thứ hai: Sau khi hành động và nó gồm ba dạng:
1- Tự kiểm điểm bản thân về một sự vâng lời mà mình đã thiếu sót trong bổn phận đối với Allah Tối Cao, nên đã không thực hiện được nó một cách trọn vẹn. Và trong những bổn phận đối với Allah Tối Cao, gồm có: Sự thành tâm, sự chân thành, sự noi gương, giác ngộ được trạng thái Ehsan, giác ngộ được ân huệ của Allah đã ban cho mình trong đó, và giác ngộ được sự thiếu sót của bản thân sau tất cả những điều đó.
2- Tự kiểm điểm bản thân về mọi việc làm mà từ bỏ thì tốt hơn là làm.
3- Tự kiểm điểm bản thân về một việc được phép hoặc một việc làm theo thói quen mà y không thực hiện; nếu y định tâm vì Allah và Đời Sau thì y là người thành công, còn nếu y chỉ định tâm vì cõi đời này thì y là kẻ thua thiệt.
Tóm lại là y phải tự xem xét bản thân mình trước tiên về các nghĩa vụ bắt buộc, rồi hoàn thiện chúng nếu chúng còn thiếu sót, sau đó xem xét về những điều cấm, và nếu biết rằng mình đã phạm phải điều gì trong số đó thì phải sửa chữa bằng việc sám hối và cầu xin tha thứ, rồi đến những gì mà các bộ phận cơ thể đã làm, và cuối cùng là sự sao lãng[112]. [112] Xem: (Ighathat Al-Lahfan), quyển 1, trang 136.
Thứ tư: Chữa trị tâm bệnh khỏi sự thống trị của Shaytan:
Shaytan là kẻ thù của con người, và sự giải thoát khỏi nó là bằng việc cầu xin sự che chở mà Allah đã quy định. Và Nabi ﷺ đã kết hợp giữa việc cầu xin sự che chở khỏi cái xấu của bản ngã và cái xấu của Shaytan, Người ﷺ đã nói với Abu Bakar: {Hãy nói: Ol lo hum ma fa ti ros sa ma ti wal arđ, a li mal ghoi bi wash sha ha đah, rab ba kul li shây in wa ma li kah, ash ha đu al la i la ha il la an ta, a u zdu bi ka min shar ri naf si wa min shar rish shay tan wa shir kih, wa an aq ta ri fa a la naf si su an, âu a jur ro hu i la mus li min - (Lạy Allah, Đấng Sáng Tạo trời và đất, Đấng biết những điều vô hình và hữu hình, Thượng Đế của vạn vật và toàn quyền nắm giữ và chi phối chúng. Bề tôi chứng nhận rằng không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài. Bề tôi xin Ngài che chở tránh khỏi điều xấu của bản thân, và điều xấu của Shaytan và sự tổ hợp của hắn, và bề tôi cầu xin Ngài che chở khỏi việc tự đẩy mình vào điều xấu hoặc là nguyên nhân gây ra điều xấu cho người Muslim.) Hãy đọc nó vào buổi sáng, buổi tối và khi đi ngủ.}[113]. (113) At-Tirmizdi, số (3392), và Abu Dawood, số (5058), được Al-Albani xác nhận Sahih trong Sahih At-Tirmizdi, 3/142.
Cầu xin sự che chở nơi Allah, sự phó thác, và sự thành tâm, ngăn chặn quyền lực của Shaytan[114]. (114) Xem: Ighathat Al-Lahfan, quyển 1, trang 145 - 162.
Cầu xin Allah ban phước lành và ban bình an cho người tôi tớ và Thiên Sứ của Ngài là Muhammad, cho gia đình và toàn thể các Sahabah của Người, và cho những người noi theo họ trong sự chính trực cho đến Ngày Phán Xét.
Các lời Du'a và cách chữa trị bằng Ruqyah từ Kinh Qur'an và Sunnah.
Sa'ed bin 'Ali bin Wahf Al-Qahtani
Quyển sách "Lời Cầu Nguyện và Tiếp Theo Đó Là Điều Trị Bằng Ruqyah từ Kinh Qur'an và Sunnah" của Tiến sĩ Sa'ed bin 'Ali bin Wahf al-Qahtani là một tài liệu tham khảo học thuật uyên bác về chủ đề lời cầu nguyện và việc điều trị bệnh tật bằng Ruqyah hợp giáo luật. Quyển sách trình bày các lời cầu nguyện được trích dẫn từ Kinh Qur'an cao quý và Sunnah của Nabi, và giải thích cách thức vận dụng chúng để chữa lành các bệnh tật về tâm linh và thể chất. Sách cũng đề cập đến việc điều trị bằng Ruqyah, nhấn mạnh sự cần thiết của đức tin Iman sâu sắc và sự hướng tâm chân thành đến Allah Tối Cao trong việc cầu xin sự chữa lành, và trình bày các phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa và điều trị khỏi những tổn hại và bệnh tật.